...Sau chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947, địch quay về bình định vùng đã chiếm, thực hiện chiến lược đánh lâu dài. Chúng củng cố các tuyến chiếm đóng.
Thực hiện quyết tâm “biến hậu phương địch thành tiền phương của ta”, các cơ quan lãnh đạo của các huyện, xã, một bộ phận của cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh cùng các đội du kích tập trung, các đại đội của Trung đoàn 98 đã quay về hậu địch. Với phương châm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, Trung đoàn 98 đã hỗ trợ tốt cho địa phương trong việc bảo vệ căn cứ địa và phát động chiến tranh nhân dân ở hậu địch, giúp cho du kích và các đơn vị tập trung của tỉnh và huyện trưởng thành.
Với lực lượng tổng hợp của chiến tranh nhân dân, ta đã phục hồi, phát triển được lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang (LLVT) của quần chúng, đã xây dựng được hệ thống quân sự địa phương đủ sức để chống địch bình định và gây dựng cơ sở cho chiến tranh du kích. Trong ba năm 1948, 1949, 1950, mặc dù có lúc căn cứ địa bị uy hiếp rất mạnh, vùng tạm bị chiếm trải qua ba cuộc bình định ácliệt, nhưng ta vẫn bảo vệ được căn cứ kháng chiến và giữ vững được phong trào chiến tranh du kích, đồng thời tiến hành phá tề, diệt tháp canh, tiến công lực lượng quân sự của địch ở ngay “hậu phương” của chúng.
Tỉnh HảiNinh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai là chiến trường quan trọng ở ven biển Đông Bắc, nhưng lại có cả một vùng rừng núi rộng lớn nối với vùng Việt Bắc, căn cứ kháng chiến của cả nước.
Ngay từ năm 1948, với chủ trương đẩy mạnh hoạt động về hướng Đông Bắc của Bộ Tổng tư lệnh và Liên khu Việt Bắc, bộ đội chủ lực đã liên tục tiến công đánh vỡ tuyến phòng thủ đường 13 và đến năm 1950 thì mở cho Hải Ninh một căn cứ địa trên phạm vi hơn hai huyện, bằng một phần ba đất đai của toàn tỉnh. Cũng từ năm 1950, phía sau lưng Quảng Yên, Đặc khu Hồng Gai và Hải Ninh đã hình thành một vùng căn cứ địa dựa vào Việt Bắc, tạo thế cho ta đưa chiến tranh nhân dân vào vùng tạm chiếm ở đồng bằng và ven biển.
Vùng căn cứ địa của tỉnh Quảng Yên ra đời ngay từ đầu kháng chiến, trên cơ sở kế thừa và phát triển thành quả của Chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo).
Trong những năm đầu xây dựng căn cứ kháng chiến, ta đã chú trọng tổ chức ngay bộ máy lãnh đạo cấp tỉnh, song song với việc xây dựng LLVT để tiễu phỉ, hỗ trợ cho việc gây dựng cơ sở chính trị và các tổ chức đoàn thể quần chúng.
Trong vùng căn cứ, ta đã từng bước thực hiện chính sách cải cách ruộng đất, tổ chức sản xuất lương thực và khai thác thế mạnh của rừng núi để chống địch bao vây kinh tế.
Việc bảo vệ căn cứ địa trong những năm đầu ở Quảng Ninh vô cùng khó khăn gian khổ. Có nhiều lần cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh phải luồn rừng, vượt suối để tránh giặc càn vào căn cứ địa. Từ cuối năm 1951, cấp uỷ Đảng ở Hải Ninh, Hoành Bồ và Quảng Yên đưa bộ đội vào vùng đồng bằng tạm chiếm “hành lang Mán” để phát động chiến tranh du kích và vận động đồng bào miền núi thì căn cứ địa được bảo vệ vững chắc.
Việc bảo vệ căn cứ gắn liền tổ chức lực lượng bộ đội, du kích, liên tục tiến công địch cả ở vùng tranh chấp và vùng địch tạm chiếm. Hình thành và giữ vững các “cửa rừng” để giữ liên hệ giữa căn cứ địa và vùng địch tạm chiếm là vấn đề rất quan trọng trong việc bảo vệ căn cứ.
Muốn thực hiện được nhiệm vụ này, quân và dân Quảng Ninh đã đấu tranh chống dồn làng, lập vành đai trắng, đòi về làng cũ, bám trụ ở vùng tranh chấp, gây cơ sở trên đường dây, đồng thời tiêu diệt các vị trí địch, tăng cường đánh phá giao thông, tổ chức phản phục kích trên đường vận chuyển hoặc bao vây các vị trí của địch.
Làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, ngay từ đầu LLVT ở Quảng Ninh hình thành LLVT quần chúng và LLVT tập trung. ở tỉnh thường có trung đoàn chủ lực, ở huyện có đại đội bộ đội địa phương. ở xã có đại đội hoặc trung đội du kích tập trung. Hầu hết các thôn, xã của vùng đồng bằng sau lưng địch, hầu như mọi người dân đều vào đoàn thể và mỗi người đều có nghĩa vụ tham gia du kích hoặc dân quân. Cán bộ, đảng viên gắn bó với du kích, nhiều người cùng ăn, cùng ngủ với du kích và bản thân họ cũng giữ vũ khí.
Những ngày đầu kháng chiến do mới hình thành, chưa được củng cố huấn luyện, vũ khí thiếu, kinh nghiệm chiến đấu chưa có là bao, lại phải chiến đấu với quân viễn chinh Pháp, nên LLVT trong tỉnh đã bị tổn thất lớn và nhiều khi lâm vào tình thế hiểm nghèo. Nhưng trong thời kỳ này thực hiện nhiệm vụ tiến sâu vào vùng sau lưng địch nên việc xây dựng dân quân, các đơn vị du kích đã được cấp uỷ Đảng từ khu, tỉnh, huyện, chi bộ trong toàn tỉnh tập trung đẩy mạnh và được thực hiện bằng nhiều biện pháp. Các đơn vị bộ đội chủ lực - nòng cốt của chiến trường - như Trung đoàn 98, các Đại đội Bạch Đằng, Đại đội Hồ Chí Minh, ngoài nhiệm vụ bảo vệ căn cứ địa của Liêntỉnh Quảng Hồng còn được chuyển sang hoạt động theo phương thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”.
Đến năm 1949, các đại đội, tiểu đoàn bộ đội địa phương của Quảng Yên, Hải Ninh, Hồng Gai đã được xây dựng và chính thức trở thành một bộ phận của Quân đội nhân dân. Tuy vậy phải đến đầu năm 1951, khi bộ đội chủ lực chuyển giao vũ khí để đi nhận trang bị mới, thì bộ đội địa phương của tỉnh mới đủ điều kiện và khả năng để làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân địa phương.
Thực hiện chủ trương của Liên khu uỷ và Tỉnh uỷ về gây cơ sở ở Liên tỉnh Quảng Hồng và đông tiến của Hải Ninh, bộ đội địa phương đã hỗ trợ đắc lực cho việc phục hồi, xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang trong vùng tạm chiếm. Từ năm 1952, khi bộ đội Hải Ninh và Hoành Bồ tiến vào vũ trang tuyên truyền và tác chiến ở vùng “hành lang Mán” thì bộ đội địa phương mới có điều kiện đánh sâu vào vùng địch tạm chiếm.
Tuy nhiên, những hạn chế về mặt xây dựng cơ sở chính trị trong các vùng dân tộc ít người đã làm cho trình độ tác chiến của bộ đội địa phương Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai chậm được nâng cao. Cơ sở chính trị yếu làm cho phong trào dân quân du kích của vùng cao không thể mạnh lên được. ở các xã Bằng Cả, Quảng La (Hoành Bồ); Đồng Văn, Phong Dụ, Tràng Vinh, Điền Xá, Châu Sơn, Bắc Lãng (Hải Ninh) không tác chiến độc lập được. Do đó các đơn vị bộ đội địa phương của Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai mặc dù rất anh dũng và kiên trì chịu đựng gian khổ, cũng không có điều kiện nâng cao trình độ tác chiến của mình, vì luôn phải phân tác để bảo vệ căn cứ và dìu dắt quân du kích.
ở Quảng Yên, do yêu cầu phải bám sát vùng sau lưng địch và hỗ trợ cho phong trào dân quân du kích, nên đầu năm 1951 ta phải đưa các đơn vị của Tiểu đoàn Bạch Đằng từ hình thức hoạt động tập trung sang hoạt động phân tán, và chỉ trở lại đánh tập trung sau khi phong trào toàn dân chống càn được phát động.
Từ khi Tiểu đoàn Bạch Đằng vào hậu địch cùng bảy, tám đại đội huyện bám sát địa phương, đã đưa quân số của ta ở hậu địch lên tới hơn một trung đoàn.
Khi phong trào chiến tranh du kích phát triển và bộ đội chủ lực qua chiến đấu đã trưởng thành đã tạo cơ sở cho phong trào toàn dân đánh giặc lên cao. Trên chiến trường Quảng Yên, khả năng đánh tập trung của bộ đội địa phương và của du kích cũng có sự phát triển nhảy vọt. Bộ đội của tỉnh và huyện có thể tập trung với quy mô tiểu đoàn để phục kích tiêu diệt hàng đại đội Âu - Phi đi tuần tiễu, tập kích diệt cả vị trí boong-ke, hoặc thọc sâu vào vùng tạm bị chiếm diệt ba đến bốn vị trí ngay trong một đêm.
Vừa tổ chức chiến đấu, đảng uỷ các cấp ở Quảng Ninh đã không ngừng xây dựng lực lượng ba thứ quân ngày càng có chất lượng tốt và sức chiến đấu cao. Bên cạnh xây dựng bản chất chính trị cho LLVT, việc xây dựng các mặt về quân sự, biên chế tổ chức, cách đánh cho lực lượng vũ trang cũng được các cấp uỷ Đảng đặc biệt quan tâm. Với phương châm vừa học vừa đánh, vừa chiến đấu vừa xây dựng, nên chỉ trong một thời gian ngắn, trình độ kỹ - chiến thuật của LLVT trong tỉnh cũng được nâng lên.
Để nâng cao khả năng tác chiến của bộ đội địa phương, tỉnh đã coi trọng việc tổ chức, bảo đảm chiến đấu và tổ chức các lực lượng chiến đấu có tính chất binh chủng. Các cơ sở huấn luyện tân binh để bổ sung cho đơn vị chiến đấu được hình thành ở huyện và tỉnh. Các đội đánh địch theo lối tập kích trên đường giao thông, các đội đánh địch trên sông được phát triển.
Để phục vụ cho bộ đội tiêu diệt các vị trí địch, các địa phương đã thường xuyên quan tâm đến việc gây cơ sở trong binh lính địch để giúp cho việc tiến hành cách đánh tập kích có nội ứng.
Lối đánh theo kiểu đặc công đã giúp cho bộ đội ta có khả năng tập kích các vị trí đóng quân và cả các công sự boong-ke của địch. Trong kháng chiến chống Pháp, ta đã xây dựng được tổ chức “Quân báo nhân dân” rộng rãi trong các bà, các chị, các em nhỏ, phục vụ đắc lực cho việc nắm tình hình chiến đấu giành thắng lợi.
Trong việc phát động chiến tranh nhân dân, có thể coi việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia xây dựng LLVT với việc phát huy vai trò nòng cốt của LLVT địa phương là hai mặt thống nhất của một vấn đề. Nhân dân đã đảm nhiệm một phần lớn vai trò của “cơ quan” chính trị, “cơ quan” hậu cần và bộ máy bảo đảm chiến đấu cho LLVT địa phương.
Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là một chặng đường đấu tranh gian khổ nhưng đồng thời cũng là chặng đường thắng lợi vẻ vang. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại quân và dân Quảng Ninh có những đóng góp vào thắng lợi chung và đã làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của nhân dân ta.
(Theo Quảng Ninh-lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)-NXB Quân đội nhân dân, 1991)