Lúng túng trong điều trị cúm A/H1N1

Trong hơn 10 ngày qua, Việt Nam ghi nhận thêm 8 ca tử vong, trong đó đặc biệt có đến bốn thai phụ. Công tác phòng chống cúm A/H1N1 càng cấp bách hơn khi Viện Pasteur TP HCM tuyên bố ngưng nhận xét nghiệm vì hết sinh phẩm và tiền nợ xét nghiệm lên đến nhiều tỉ đồng.

Tất cả cho thấy ngành y tế đang lúng túng trong phòng chống và điều trị dịch.

Dễ thấy nhất là trong khâu xét nghiệm. Từ đầu tháng 8/2008, Ban chỉ đạo phòng chống đại dịch cúm ở người đã giao cho ngành y tế kiểm tra, công bố những cơ sở đủ điều kiện xét nghiệm cúm A/H1N1 nhưng sự việc tiến hành rất chậm rãi. Cho đến khi Việm Pasteur TP HCM tuyên bố ngưng xét nghiệm, mãi đến hôm 5/10, ngành y tế mới công bố 14 phòng xét nghiệm đủ tiêu chuẩn xét nghiệm cúm A/H1N1.

Việc quá tải trong xét nghiệm làm ảnh hưởng đến khả năng phòng dịch. Đề phòng dịch bao vây, tránh lây ra cộng đồng, đặc biệt trong các trường hợp bội nhiễm nếu không có kết quả xét nghiệm, chỉ điều trị theo triệu chứng là bất cập.
 
Riêng ở góc độ điều trị, các chuyên gia cho rằng, việc xét nghiệm đại trà cũng không cần thiết nữa, cứ thấy các triệu chứng điển hình của cúm A/H1N1 là có thể điều trị theo phác đồ của Bộ Y tế đã ban hành. Triệu chứng điển hình là gì? Theo các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cúm kèm theo các biểu hiện: cảm giác thiếu khí thở ngay khi nghỉ ngơi, khó thở, tím tái, ho có đờm sẫm màu hoặc có máu, đau ngực, thay dổi tính tình, sốt cao quá 3 ngày, tụt huyết áp; với trẻ em cũng gây khó thở, lờ đờ, không chịu chơi, khó đánh thức.

Việc điều trị cúm A/H1N1 đang gặp nhiều bất cập, đặc biệt với phác đồ có thuốc kháng vi rút với biệt dược là Tamiflu và Relenza. 20 ca nhiễm cúm A/H1N1 tử vong vừa qua đa số là nhập viện trễ. Điều này dễ hiểu, vì khoa học phổ thông cho thấy, bệnh cúm nói chung và cúm A/H1N1 đều không có thuốc điều trị đặc hiệu. Bệnh cúm không thể chữa được và cũng không thể thanh toán được. Tamiflu hay Relenza về nguyên tắc chỉ là thuốc kiềm hãm sự tăng sinh của vi rút trong cơ thể người bệnh chứ không thể tiêu diệt được vi rút.

Đặc biệt, hai biệt dược trên chỉ có hiệu quả trong vòng 48 giờ khi có triệu chứng cúm A/H1N1 xuất hiện, khi mà vi rút vừa mới xâm nhập vào cơ thể, trước khi xâm nhập vào tế bào. Tất cả cho thấy, việc sử dụng biệt dược Tamiflu và Relenza đúng thời điểm là hết sức quan trọng.
 
Do vậy, thời điểm điều trị rất quan trọng. Cách đây không lâu, ngày 21/8, WHO lần đầu tiên có khuyến nghị hạn chế dùng thuốc chống vi rút rộng rãi, mà chỉ dùng đối với các trường hợp nhiễm cúm A/H1N1 nặng và với các bệnh nhân có nguy cơ cao. Cảnh báo này cho đến nay vẫn là cảnh báo, còn trong điều trị thực tế, nhiều nơi vân sử dụng biệt dược Tamiflu và Relenza, cho thấy trong công tác điều trị cúm A/H1N1, cả thế giới đều lúng túng.

Trường hợp 4 thai phụ tử vong trong hơn 10 ngày qua cho thấy, chúng ta còn nhiều bất cập trong điều trị và cần đánh giá lại công tác xét nghiệm trước khi điều trị, hoặc phải điều trị ngay khi bệnh nhân có những triệu chứng điển hình. Theo nghiên cứu của Trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ, thai phụ thường có nguy cơ cao với cúm A/H1N. Do đó, Trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ khuyến nghị phải cho thai phụ nghi nhiễm cúm uống Tamiflu sớm.

Cúm nói chung là loại bệnh mà ai cũng phải một lần bị nhiễm, hầu hết các bệnh nhân nhiễm cúm điển hình đều tự khỏi mà không cần phải điều trị. Ngoài ra, còn có một tỷ lệ lớn người nhiễm cúm nhưng lại không phát bệnh và các đối tượng này cũng ccó thể lây bệnh. Đó là lý do cách đây hơn hai tháng WHO đã thôi không công bố số lượng người nhiễm cúm A/H1N1 hàng ngày trên toàn thế giới.

Cho đến nay, bệnh cúm nói chung và cúm A/H1N1 nói riêng vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Các nghiên cứu, các phác đồ điều trị vẫn được các chuyên gia tiếp tục đưa ra nhưng chưa thể có kết luận cuối cùng. Đó là lý do không chỉ ở nước ta lúng túng trong điều trị cúm A/H1N1, mà ở nhiều nước khác cũng vậy. Vấn đề là phương pháp phòng chống lây lan trong cộng đồng và phải bắt đầu từ từng cá nhân, đặc biệt phải biết rửa tay đúng phương pháp bằng xà phòng theo khuyến cáo của WHO.