Từ khi được thành lập đến nay, Ban Dân tộc tỉnh đã có những bước phát triển mới toàn diện cả về số lượng và chất lượng. Tổ chức bộ máy của Ban không ngừng được kiện toàn, củng cố. Đến nay, Ban Dân tộc tỉnh có 4 bộ phận chuyên môn (Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Phòng Chính sách dân tộc, Văn phòng và Bộ phận thanh tra).
Trình diễn trang phục dân tộc tại Ngày hội văn hoá các dân tộc tỉnh Quảng Ninh lần thứ IV - 2009. ảnh: Đỗ Phương
Thực hiện việc chuẩn hoá đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, trong những năm gần đây, Ban Dân tộc tỉnh đã cử nhiều lượt cán bộ tham dự các lớp đào tạo nghiệp vụ công tác dân tộc, các lớp tập huấn do chính phủ nước ngoài tài trợ. Hàng năm Ban còn cử nhiều đợt cán bộ tham dự các lớp tập huấn về nghiệp vụ tin học, lý luận chính trị, nghiệp vụ quản lý hành chính nhà nước, nghiệp vụ thanh tra... Hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc các cấp cũng không ngừng được củng cố và tăng cường. Hàng năm, Ban Dân tộc tỉnh đều tổ chức các lớp tập huấn cho đội ngũ lãnh đạo và nghiệp vụ làm công tác dân tộc ở các địa phương, cán bộ các đoàn thể làm công tác dân tộc trong hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh, nâng cao năng lực quản lý các chương trình, dự án ở vùng đồng bào dân tộc, miền núi. Trong những năm qua, công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh đã được cấp uỷ đảng và chính quyền, Mặt trận và đoàn thể các cấp quan tâm thực hiện đạt kết quả. Việc tăng cường cán bộ là người dân tộc thiểu số (DTTS) trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc cũng được đặc biệt quan tâm. Ban Dân tộc tỉnh hiện có số lượng cán bộ là người DTTS chiếm 32,5%, cấp huyện chiếm 25%. Hệ thống chính trị cơ sở vùng DTTS, miền núi được củng cố, kiện toàn. Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị được tăng cường và nâng cao hơn một bước. Đội ngũ cán bộ người DTTS tại chỗ được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, nhất là cán bộ cơ sở. Đến nay, toàn tỉnh có 971 cán bộ chủ chốt cấp xã, trong đó có 162 là người DTTS (16,68%); số có trình độ THPT là 813 người (83,72%); số có trình độ trung cấp lý luận chính trị là 676 người (69,61%); số có trình độ đại học là 256 người (26,36%). Việc xây dựng lực lượng cốt cán già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc được quan tâm. Cán bộ làm công tác dân tộc tỉnh đã được nâng lên một bước về phẩm chất chính trị, đạo đức tác phong, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, quản lý nhà nước, lý luận chính trị và kinh nghiệm thực tiễn, ngày càng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác dân tộc trong tình hình hiện nay. Cán bộ, nhân viên của Ban đều tích cực tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền về quản lý nhà nước và triển khai thực hiện các chính sách dân tộc, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào vùng dân tộc, miền núi. Đáng chú ý là việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án ở vùng đồng bào dân tộc, miền núi đã làm bộ mặt kinh tế - xã hội ở khu vực này phát triển vượt bậc. Như thực hiện Chương trình 135 về phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào miền núi. Nhờ hệ thống các công trình thuỷ lợi đã được bê tông hoá, kiên cố hoá, kết hợp với các chính sách ưu tiên hỗ trợ về giống, phân bón, xây dựng các mô hình điểm và tập huấn khuyến nông, khuyến lâm, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và các giống cây trồng vật nuôi được chú trọng thực hiện, sản xuất nông nghiệp ở các xã 135 đã có những chuyển biến tích cực. Đến nay, hầu hết các xã đã tự túc được lương thực, không còn hộ đói, cơ bản đã chấm dứt tình trạng đồng bào dân tộc tại các xã đặc biệt khó khăn di cư tự do. Các công trình đường giao thông, trường học, trạm y tế, chợ thương mại, các công trình nước sinh hoạt tập trung được làm kiên cố vững chắc, có sự phối hợp kiểm tra giám sát của các ban giám sát xã, giám sát cộng đồng, kịp thời điều chỉnh và loại bỏ những sai phạm trong quá trình thi công, nên hầu hết các công trình thuộc Chương trình 135 đã phát huy hiệu quả, phục vụ sản xuất và đời sống của đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa. Đến nay, cơ bản các xã đã có đường bê tông hoặc nhựa hoá đến trung tâm xã; 88,9% số hộ được dùng điện, 76,5% số dân được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; hoàn thành công tác định canh định cư, đến nay cơ bản không còn tình trạng di cư tự do. Chương trình 134 về hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn đã cơ bản giải quyết được nhu cầu về đất ở mà mục tiêu đề án đã đề ra. Hỗ trợ đất sản xuất cho 763 hộ với tổng diện tích 149,06 ha (bình quân mỗi hộ 0,19 ha) với tổng kinh phí 801 triệu đồng. Giải quyết 106 công trình nước sinh hoạt tập trung, 622 công trình nước sinh hoạt phân tán phục vụ cho 4.436 hộ gia đình với kinh phí thực hiện 19.788 triệu đồng. Từ năm 2006, Quảng Ninh đã được công nhận phổ cập giáo dục THCS với 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn. Tỷ lệ trẻ em vùng DTTS đến trường đúng độ tuổi năm học 2006-2007 đạt 95,4%. Số học sinh DTTS hoàn thành chương trình tiểu học được huy động vào học lớp 6 đạt tỷ lệ 96%. Số học sinh DTTS có độ tuổi từ 15 đến 18 có bằng tốt nghiệp THCS đạt tỷ lệ 80%. Đến nay, toàn tỉnh có 5 trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện (Hoành Bồ, Tiên Yên, Bình Liêu, Ba Chẽ và Hải Hà) và 1 trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh được trang bị cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và đảm bảo tiêu chuẩn quy định của Nhà nước. Ngoài ra còn có 10 trường bán trú ở Ba Chẽ, Hải Hà và 51 lớp nội trú, bán trú.
Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ đồng bào DTTS, miền núi ngày càng được quan tâm. Một số dịch bệnh thường gặp ở vùng DTTS, miền núi như sốt rét, bướu cổ, lao được ngăn chặn và đẩy lùi. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, phòng, chống suy dinh dưỡng có nhiều tiến bộ. Ngành Y tế thực hiện chính sách ưu tiên khám chữa bệnh cho đồng bào DTTS. Dịch vụ y tế khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh ở vùng DTTS, miền núi không ngừng được cải thiện. Công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, người DTTS thường xuyên được quan tâm. Đã khám chữa bệnh cho 66.541 lượt người, cấp phát 33.953 thẻ bảo hiểm y tế cho đồng bào DTTS, 6.111 hộ được cấp thuốc miễn phí. Đến hết năm 2005, toàn tỉnh đã hoàn thành chỉ tiêu đạt 100% xã có trạm y tế kiên cố, có thiết bị khám chữa bệnh đồng bộ đảm bảo đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh thông thường của nhân dân tại cơ sở. Số bác sĩ và y sĩ sản nhi công tác tại trạm y tế các xã khu vực miền núi, vùng DTTS đến nay đạt 64,5%
Quyền được sáng tạo và hưởng thụ văn hoá, bảo tồn bản sắc văn hoá, duy trì tiếng nói, chữ viết của đồng bào DTTS được quan tâm chú trọng. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đã được triển khai rộng khắp, có ảnh hưởng tích cực đến đời sống của đồng bào các dân tộc. Các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình, thông tin báo chí được tăng cường. Hiện toàn tỉnh đã được phủ sóng phát thanh, truyền hình, trong đó có các xã vùng dân tộc miền núi. ở các địa phương vùng dân tộc miền núi, biên giới, hải đảo, công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các DTTS được chú trọng. Ban Dân tộc đã phối hợp với Đài PTTH tỉnh xây dựng và phát sóng chương trình PTTH bằng tiếng Dao Thanh Y, nâng chất lượng các chương trình phát sóng cho đồng bào các DTTS, phục vụ nhu cầu thông tin, hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của đồng bào vùng dân tộc và miền núi; phối hợp với Sở Nội vụ, Sở GD-ĐT biên soạn Bộ Tài liệu dạy và học tiếng Dao Thanh Phán dùng cho học viên là cán bộ, công chức, viên chức công tác tại vùng đồng bào dân tộc, miền núi của tỉnh. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc, miền núi được phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, từng bước nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện để đồng bào dân tộc, miền núi nâng cao hiểu biết pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong xã hội, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Với những thành tích đã đạt được, ngành Quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong tỉnh đã được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 1999-2007; bằng khen của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc (2006, 2007, 2008); bằng khen của Ban Tôn giáo Chính phủ (2001, 2002); bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh (2005, 2006, 2007, 2008). Nhiều cán bộ, đảng viên cơ quan Ban Dân tộc được nhận bằng khen của Uỷ ban Dân tộc, Ban Tôn giáo Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh về những thành tích xuất sắc trong công tác dân tộc.