- Thưa nhà thơ, nếu nhìn vào những cây viết “gạo cội” hiện đang ở Quảng Ninh, có lẽ ông cũng là một trong những người tỉnh ngoài có thâm niên gắn bó với vùng đất này cao nhất. Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập tỉnh, xin hỏi ông duyên cớ nào đã đưa ông về vùng đất công nghiệp này? (Trò chuyện với nhà thơ Trần Nhuận Minh)
Nhà thơ Trần Nhuận Minh. - Tôi vốn người làng Điền Trì, một làng nổi tiếng khoa bảng của tỉnh Hải Dương xưa, nhưng lại ra Quảng Ninh khá sớm. Tôi rất cảm ơn số phận đã dành cho tôi sự may mắn đó. Năm 1962, tốt nghiệp loại giỏi, khoa xã hội Trường Sư phạm Trung cấp Hải Dương thuộc Bộ Giáo dục, là cảm tình Đảng, tôi viết đơn tình nguyện đến nơi xa xôi nhất, gian khổ nhất, lạc hậu nhất, tôi chọn nơi đó là Lào Cai. Nhưng có một cán bộ tổ chức của Sở Giáo dục khu Hồng Quảng, tên là Xuân, đã đến gặp nhà trường, rồi sau đó cùng thầy hiệu trưởng gặp tôi, xin tôi về khu mỏ. Giả sử hồ sơ của tôi không lọt vào ''mắt xanh'' của ông Xuân, tôi không biết đời tôi bây giờ sẽ như thế nào? Nhiều lần tôi tìm hỏi ông Xuân ở đâu, để tôi tạ ơn, nhưng cán bộ trong ngành giáo dục thời đó, không ai còn nhớ. Một năm sau (1963), tỉnh Quảng Ninh thành lập, và tôi có mặt trong mọi chuyển động của tỉnh suốt 45 năm qua... - Vậy trong 45 năm gắn bó với vùng đất này, nếu nhớ lại một kỷ niệm sâu sắc nhất thì ông sẽ nói đến điều gì? Nói ngay thì khó quá, vì chưa tổng kết được. Năm 1972, ở thị xã Hồng Gai, sau trận ném bom huỷ diệt đầu tiên của giặc Mỹ, tôi có bài thơ Những viên đạn giận dữ, đăng báo Nhân Dân, có câu: Khi viên đạn vút lên máy bay thù, giận dữ/ Tôi hiểu đời tôi đã định đoạt rồi/ Tôi sẽ sống và tôi sẽ chết/ Cho Hồng Gai, Hồng Gai ơi! Đọc xong câu này, có vị nói với lãnh đạo tỉnh rằng, nó viết thế, nhưng thế nào nó cũng về Hà Nội(!). Sau này, 2 cơ quan mời tôi về Hà Nội là Tổng Công Đoàn Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng tôi đều không về, tất nhiên không phải vì câu nói vu vơ ấy; mà vì ở đây, tôi thấy mình được thoải mái. Năm 2000, trong bài Tự thuật, tôi viết: Tôi đứng ở mọi miền. Đi ở khắp nơi/ Chỗ tôi nằm là đất Hạ Long thôi. Tôi đã nghĩ như tôi viết và tôi cũng sống như tôi viết. Mảnh đất này đã dạy tôi sự nhất quán đó. - Là Uỷ viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam, ông thấy các nhà thơ sáng tác về Quảng Ninh thế nào? - Rất hay ở thời kỳ đồng chí Nguyễn Thọ Chân làm Bí thư Khu uỷ và đồng chí Phạm Hoành làm Chủ tịch tỉnh. Hai đồng chí này mời được các văn nghệ sĩ có tài về với mình và đứng ở cạnh mình; tất nhiên là có chế độ đãi ngộ phù hợp, nhưng nói cho cùng, điều ấy không phải là cái quan trọng nhất. Cái quan trọng nhất là Kẻ Sĩ nhận ra cái Tâm của nhà lãnh đạo dành cho mình. Hầu hết các bài thơ danh tiếng, chủ yếu đều từ thời đó mà ra, bây giờ vẫn đang có mặt trong đời sống tinh thần của nhân dân Vùng mỏ. Trong các nhà thơ lớn, Huy Cận viết nhiều nhất và hay nhất, về tỉnh Quảng Ninh, tổng số đến 26 bài. Có một câu thơ tài hoa nhất trong đời thơ Huy Cận, được ông viết ở đây: Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm. Xuân Diệu có 6 bài, trong đó, bài Chào Hạ Long phải nói là một kiệt tác: Ta ngả chào vừng non nước Hạ Long. Chế Lan Viên có 5 bài rất đặc sắc, thật khó quên câu thơ: Trời tháng sáu cười từng bể bạc. Thơ ông thường được lạ hoá, đến bây giờ, người đọc vẫn còn ngạc nhiên về chùm thơ dài 3 bài Văn xuôi về một vùng than. Cùng với nhiều ca khúc hay khác, những thi phẩm này đã làm cho Quảng Ninh trở thành mảnh đất bất tử trong tâm hồn của mọi người Việt Nam. Có một nhà khoa học kiêm nhà thơ, tiến sĩ viện trưởng Hoàng Quang Thuận, cả đời chỉ viết về danh sơn Yên Tử, tổng cộng 143 bài; ngoài Yên Tử ra, tuyệt đối không có thơ về bất cứ đề tài nào, kể cả quê hương và tình yêu. Cũng là một hiện tượng lạ, chưa từng có. - Còn ông, sau “Nhà thơ và hoa cỏ”, “Bản Xônát hoang dã”, được tặng Giải thưởng Nhà nước, rồi gần đây lại có “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh” cũng rất được bạn đọc chú ý! Và tôi cũng được biết ông đang hoàn thành cuốn tiểu thuyết “Cõi người”... Vậy xin hỏi, trong các sáng tác của mình, Quảng Ninh có vị thế như thế nào đối với ông? - Thời gian đầu (1962-1985), tôi viết thuần tuý về Quảng Ninh. Thơ có 4 tập, trong đó khá hơn cả là “Âm điệu một vùng đất” chủ yếu viết về mỏ Cọc Sáu, Giải thưởng văn học Công nhân. Văn xuôi có 2 tiểu thuyết viết cho thiếu nhi; đó là ''Trước mùa mưa bão'' viết về mỏ Cọc Sáu, được tặng giải Nhất văn học thiếu nhi, được giới thiệu ra 6 thứ tiếng nước ngoài, được trích đưa vào sách giáo khoa lớp 3, lớp 4 phổ thông từ năm 1981 và ''Hòn đảo phía chân trời'', viết về người dân chài, vùng bên bờ sông Bạch Đằng, huyện Yên Hưng, được tặng giải Ba văn học thiếu nhi, được trích đưa vào sách giáo khoa lớp 5 phổ thông, hiện các cháu vẫn đang học. Từ năm 1986 đến 2000, tôi chỉ tập trung hoàn thiện tập thơ Nhà thơ và Hoa cỏ, 105 bài, được tái bản tới 16 lần, được đưa vào phần Khái quát Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến hết thế kỷ XX, trong sách Ngữ văn lớp 12. Tập thơ này là bước đổi mới về tư duy nghệ thuật. Tôi viết về số phận của Nhân dân, mà Quảng Ninh chỉ còn là một điểm tựa. Đến 2 tập thơ mới đầu thế kỷ này, ''Bản Xônát hoang dã'' (đã tái bản 7 lần) và “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh'' (vừa được tái bản), tôi bước đi xa hơn, viết về Con Người, trong cõi Vô Cùng; mà ở đó, Nhân dân chỉ còn là một điểm tựa. Tôi thấy càng viết, càng phải mở rộng tầm nhìn, để hy vọng có gì đó đóng góp vào nền văn học trên chặng đường hội nhập và phát triển. Tôi rất vui là 4 tập thơ chủ chốt của tôi (Nhà thơ và hoa cỏ, Bản Xônat hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, Gửi lại dọc đường) đều đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Anh, có tên chung là Bốn mùa... ''Cõi người'' là một tiểu thuyết viết theo phương pháp ảo, cỡ 500 trang in, về một làng quê trong dòng chảy 600 năm, với các sự kiện lịch sử lớn mà đất nước đã trải qua, nhưng không phải là tiểu thuyết lịch sử. Tôi lại thử bước xa thêm nữa. Tôi đã nhận tài trợ chiều sâu ở mức cao nhất của Hội Nhà văn Việt Nam cho cuốn sách này. Tôi mới đưa báo đăng thử 1 chương (chương V) để nghe ngóng dư luận. Đối với tôi, sáng tác bao giờ cũng là một việc làm quá sức và bao giờ ngồi trước máy tính, tôi cũng có cảm giác lo sợ, không biết mình có vượt qua được chặng đua cuối cùng này không? Không dám nói trước. Đã có một số luận văn Cử nhân và Thạc sĩ văn học về thơ của tôi. Tôi vô cùng biết ơn Quảng Ninh, mảnh đất nuôi tôi từ năm 18 tuổi, như một câu thơ tôi đã viết. Không có Quảng Ninh, chắc chắn không có cái để tạo thành tôi bây giờ. Tôi rất thích câu thơ của nhà thơ Huy Cận: Suy nghĩ chi cũng trên mảnh đất này... - Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập tỉnh, điều cuối cùng ông muốn nói là gì? - Quảng Ninh đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn về kinh tế và xã hội, trên nền tảng quan trọng là ổn định chính trị. Nhưng văn hoá và văn nghệ thì còn quá nhiều việc chưa làm được. Rất vui là Ban Chấp hành Trung ương vừa có Nghị quyết về xây dựng đội ngũ Trí thức và Bộ Chính trị cũng vừa có Nghị quyết về Văn học Nghệ thuật. Cửa đã mở và trước mắt chúng ta là toàn thế giới. Một thế giới phẳng. Đã đến lúc tất cả chúng ta phải cùng vào cuộc vì nó là cái mảnh đất dưới chân ta đứng, không khí hằng ngày ta thở. Thiếu nó thì dân có giàu, vận nước cũng vẫn suy, còn không có nó thì cũng không còn có cái gì chúng ta phải giữ nữa.
- Xin cảm ơn nhà thơ!