Mật độ dân số VN đe dọa cuộc sống

Tốc độ phát triển dân số bước đầu đã được kiềm chế nhưng còn bấp bênh, mất cân bằng giới tính có dấu hiệu diễn ra nghiêm trọng ở nhiều tỉnh, thành... Đó là những thách thức đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước.

(Cuộc trao đổi với PGS -TS Nguyễn Đình Cử (Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế Quốc dân) về vấn đề dân số của nước ta).

Mật độ dân số cao gấp 6-7 lần “mật độ chuẩn”

Thưa ông, đâu là đặc điểm đáng lo ngại nhất của dân số Việt Nam (VN) hiện nay?

Các nhà khoa học của Liên Hợp Quốc đã tính toán rằng, để cuộc sống thuận lợi, bình quân trên 1 km2, chỉ nên có từ 35 đến 40 người. Trong khi đó, mật độ dân số nước ta, năm 2005, lên tới 252 người trên 1km2.

Vùng đồng bằng sông Hồng khoảng trên 1.200 người/km2, nhiều tỉnh “thuần nông”, như: Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, Bắc Ninh mật độ dân số cũng lên tới trên 1.100 người/km2! Trên thế giới chỉ có 4 nước ( Ấn Độ, Nhật Bản, Băng -la -đet, Phi-lip-pin) có dân số nhiều hơn và mật độ dân số cao hơn nước ta.

Như vậy, ở VN, mật độ dân số đã gấp khoảng  6-7 lần “mật độ chuẩn”. So với mật độ dân số Trung Quốc (136  người/km2) thì VN  cũng gần gấp đôi, còn so với các nước đã phát triển thì gấp trên 10 lần! 

Trong những năm qua, sự mất cân đối giới tính, nhìn chung đã dần dần thu hẹp. Tuy nhiên, đối với trẻ em và trẻ sơ sinh, sự mất cân đối giới tính lại có dấu hiệu nghiêm trọng, khiến Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã phải chấn chỉnh 23 tỉnh, thành về vấn đề này?

Để đánh giá mức độ cân bằng giữa nam và nữ, người ta dùng chỉ tiêu: “Tỷ số giới tính”, tức là “Số nam tương ứng với 100 nữ”. VN là một trong những nước có tỷ số giới tính thấp và không ổn định. Tuy nhiên, đối với nhóm từ 0 đến 4 tuổi, tỷ số giới tính lại không ngừng tăng lên, nghĩa là trẻ em trai ngày càng nhiều hơn trẻ em gái cùng nhóm tuổi.

Một ví dụ ở đồng bằng sông Hồng, theo Điều tra mức sống dân cư năm (1997 - 1998), tỷ số giới tính của trẻ em từ 1 đến 4 tuổi cao nhất nước: 116, nghĩa là trong độ tuổi từ 1 đến 4, cứ có 100 cháu gái thì có tới 116 cháu trai!

Từ những số liệu và kết quả của nhiều cuộc điều tra khác nhau, có thể nêu giả thiết đáng tin cậy rằng: Ở nước ta đã có sự lựa chọn của cha mẹ, sự can thiệp của y tế để sinh con trai.

Hậu quả của tình trạng “lựa chọn” này sẽ dẫn đến sự mất cân bằng giới tính nghiêm trọng trong thế hệ trẻ. Đây là sự mất cân bằng vật chất. Do vậy, tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả xã hội rất nặng nề.

Dân số Việt Nam đạt 84 triệu người

Ngày 26/12, tại lễ mít tinh kỷ niệm 45 năm Ngày Dân số Việt Nam, bà Lê Thị Thu – Chủ tịch UB Dân số - Gia đình - Trẻ em cho biết dân số hiện nay là 84 triệu người, thấp hơn 6 triệu so với mục tiêu đặt ra.

Cơ cấu dân số đã chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang giai đoạn cơ cấu tuổi thuận lợi, với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay (64,5% trong độ tuổi lao động).

Việt Nam phấn đấu đạt mục tiêu giảm sinh ở mức 0,25 – 0,3% hàng năm. Năm ngoái, chỉ số phát triển con người của Việt Nam đạt 0,704 điểm, xếp thứ 108/177.

Tầm vóc trung bình của thanh niên 18 - 19 tuổi đã tăng 4 - 4,5cm so với năm 1975.

Tại lễ mít tinh, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đề ra một số mục tiêu mà ngành dân số cần thực hiện, đó là gắn công tác dân số - gia đình - trẻ em với nhiệm vụ của từng ngành, đoàn thể; Nghiêm tục phân tích những yếu kém và đề ra những giải pháp đồng bộ, kế hoạch thực hiện trong từng lĩnh vực cụ thể; Đào tạo đội ngũ cán bộ dân số, gia đình tâm huyết và năng lực. 

Ở Trung Quốc hiện nay, cứ  sinh 100 bé gái thì tương ứng người ta lại sinh được 120 bé trai. Các nhà khoa học dự đoán, trong vài thập kỷ tới có khoảng 40 triệu chàng trai Trung Quốc sẽ không thể kiếm được bạn đời. Vì thế, lấy vợ nước ngoài và các tội phạm buôn bán phụ nữ, mại dâm đã xảy ra và có thể sẽ tăng lên.

Có thể nói rằng, VN có quy mô dân số rất lớn (trên 84 triệu, đứng thứ 13 thế giới), mật độ dân số rất cao và vẫn đang tăng mạnh (mỗi năm dân số tăng thêm một tỉnh loại trung bình, 1 triệu dân), ông có khuyến nghị gì với các nhà làm chính sách trước đặc điểm dân số như vậy?

Bên cạnh việc tạo ra thị trường lớn, nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, có sức hấp dẫn đầu tư, cũng góp phần không nhỏ làm trầm trọng thêm những khó khăn trong giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, xóa bỏ tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông...

Về mặt chính sách, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) vẫn là nội dung cần ưu tiên hàng đầu trong chính sách dân số nói riêng và chính sách kinh tế-xã hội nói chung ở nước ta.

Cụ thể là, cần có những  chính sách, luật pháp điều chỉnh vấn đề sinh sản, đẩy mạnh tuyên truyền, đảm bảo dịch vụ, phương tiện có chất lượng, nhằm đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu của người dân. Coi kỹ thuật KHHGĐ là một trong những lĩnh vực kỹ thuật hàng đầu của nước ta. Các chính sách phát triển phải hướng mạnh đến tạo việc làm, đa dạng hóa ngành nghề, chuyển đổi cơ cấu lao động.

Thực hiện tốt việc điều chỉnh quy mô dân số trên phạm vi toàn quốc cũng như từng vùng, miền, bao gồm KHHGĐ,  di cư  và đẩy mạnh xuất khẩu lao động.

Tỷ số phụ thuộc trong dân số liên tục giảm

Nhiều ý kiến cho rằng, VN đang ở thời điểm có “cơ cấu dân số vàng”, thưa ông?

Đúng vậy! Tỷ số phụ thuộc (tổng số trẻ em và người già bình quân cho một người trong độ tuổi  lao động, từ 15 đến 59) trong dân số VN đang không ngừng giảm xuống: Năm 1979 là 0,95, năm 1989: là 0,86 và năm 1999 là 0,7.

Theo dự báo, tỷ lệ này đến năm 2014, chỉ còn khoảng 0,5. Đây chính là “cơ cấu dân số vàng”, hay “dư  lợi dân số” tức là mỗi người lao động gánh nhẹ dần số người ăn theo, tạo điều kiện tốt cho kinh tế quốc dân, kinh tế gia đình có tiết kiệm để đầu tư phát triển.

Bên cạnh đó, cũng cần thấy một vấn đề là vào năm 2005, tỷ lệ trẻ em từ 14 tuổi trở xuống ở nước ta là  26,4%, ở Nhật Bản, tỷ lệ này chỉ có 15%! Như vậy, nếu có khoảng 80 triệu dân như VN thì Nhật Bản chỉ có 12,0 triệu trẻ em còn nước ta có hơn  21,1 triệu! Ngay cả khi kinh tế VN và Nhật Bản như nhau thì bài toán nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em ở nước ta cũng nặng hơn Nhật Bản gần 2 lần!

Nhìn vào dân số VN, người ta nói rằng, các hệ thống giá trị đang thay đổi nhanh chóng, ông nghĩ sao?

Thực tế cho thấy, VN không chỉ đổi mới nhanh chóng về kinh tế – xã hội mà còn đang đổi mới nhanh các thế hệ dân số. Điều này là do một thời gian dài sau chiến tranh, mức sinh cao và tuổi thọ thấp. Những người sinh ra sau ngày miền Nam giải phóng ước khoảng 63% tổng dân số hiện nay còn những người dưới 45 tuổi khoảng 78%.

Dân số trẻ chứa đựng tiềm năng to lớn về trí sáng tạo, sự nhanh nhạy và dễ nắm bắt những cái mới. Đồng thời hệ thống giá trị cũng thay đổi rất nhanh.

Xin cảm ơn ông!

Mật độ dân số VN đe dọa cuộc sống ảnh 1

PGS - TS. Nguyễn Đình Cử.

Cùng chuyên mục