Sau di tích đặc biệt là am Ngọa Vân - nơi Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông tu thiền và hóa, trên đất Đông Triều còn rất nhiều di tích triều Trần, trước hết là hệ thống lăng mộ sau đó là các đền, chùa rất cần được bảo tồn, tôn tạo hoặc xây dựng lại. Riêng về lăng mộ, đền miếu thì đền Thái có vị trí đặc biệt.
Đền Thái có vị trí đặc biệt vì mấy lẽ: Trước hết, đền Thái gắn liền với lăng Đồng Thái, tức Thái Lăng, nơi an táng Thượng hoàng Trần Anh Tông. Đây là lăng mộ đầu tiên của triều Trần trên quê gốc Đông Triều. Vua Trần Anh Tông mất ngày 16-3-1320 tại Thiên Trường, tạm quàn tại cung Thánh Từ, 9 tháng sau khi xây dựng lăng ở An Sinh đã đưa về an táng vĩnh viễn tại đây. Hai năm sau, thi hài vợ Thượng hoàng Anh Tông là Thuận Khánh Bảo Từ Hoàng Thái Hậu cũng được đưa về phụ táng tại Thái Lăng (15-2-1332). Việc đưa thi hài các vua và các hoàng hậu về sau cứ theo nếp ấy - tạm quàn ở Thiên Trường hoặc Thăng Long rồi ít tháng sau đều đưa về An Sinh. Các lăng mộ nối tiếp được xây dựng trên những quả đồi gần đó. Cụ thể, Mục Lăng (Lăng Đồng Mục) an táng vua Trần Minh Tông; Phụ Lăng (Lăng Phụ Sơn) an táng vua Trần Dụ Tông; Ngải Lăng (Lăng Ngải Sơn) an táng vua Trần Hiến Tông; Nguyên Lăng táng vua Trần Nghệ Tông. Di cốt vua Giản Định đời Hậu Trần cũng được đưa về an táng tại đây. Ngoài ra, còn có Hỷ Lăng (Lăng Đồng Hỷ) ở núi Ngọc Thanh (nay thuộc thôn Đạm Thủy, xã Thủy An) táng mộ giả vua Trần Duệ Tông bị tử trận ở phương Nam khi đánh Chiêm Thành. Vua Trần Thuận Tông bị Hồ Quý Ly bức tử ở quán Ngọc Thanh cũng được mai táng ở Đạm Thủy. Như vậy là lăng Đồng Thái (Thái Lăng) đã mở đầu cho việc đưa thi hài các vua triều Trần về quê gốc Đông Triều. Không chỉ có vậy mà cùng với việc xây dựng Thái Lăng, triều đình nhà Trần còn xây dựng đền Thái để thờ các vị tiên đế, cụ thể là thờ “Tam vị Thánh Tổ Trần Triều” gồm Thái tổ Trần Thừa, vua Trần Thái Tông và vua Trần Thánh Tông. Chính vì vậy mà đền Thái còn được gọi là Thái Miếu. Thái Miếu là Tổ miếu - miếu thờ vua sáng lập cả một triều đại, vua khai quốc. Trong chữ Hán, chữ “Thái” có nghĩa là cực lớn, nghĩa phái sinh là tuyệt đỉnh, là tối cao. Không phải ngẫu nhiên mà ngôi đền được gọi là “đền Thái”. Đền Thái ngay từ khi khởi dựng đã có quy mô lớn. Nếu Lăng Thái có 3 lớp vuông vắn giật cấp theo sườn quả đồi Táng Quỷ thì đền Thái lại bề thế ở phía trước với kết cấu kiểu chữ “Tam” trên diện tích xây dựng rộng tới 1.200m2 (Tôi đã được xem kỹ bản vẽ trên giấy croquis khổ lớn miêu tả di tích này của PGS Nguyễn Du Chi). Như vậy đây là một công trình kiến trúc lớn và sớm nhất trong hệ thống các lăng mộ đền miếu tại An Sinh. Các nhà khảo cổ đã nhiều lần khảo sát để tìm ra các di vật điêu khắc, kiến trúc cụ thể, tôi xin không nói lại. Một ý nữa cần chú ý là lăng mộ của vua Trần Thái Tông và vua Trần Thánh Tông từ Thái Bình đều đã chuyển về An Sinh (ở Thái Bình vua Thái Tông có Chiêu Lăng, vua Thánh Tông có Dụ Lăng và ngôi đền thờ chung là Thái Đường). Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Tháng 6 rước thần tượng các lăng ở Quắc Hương, Thái Đường... đưa về lăng lớn ở Yên Sinh để tránh nạn người Chiêm Thành vào cướp”. Việc di chuyển này là chính xác bởi sau đó quân Chiêm - do Chế Bồng Nga cầm đầu đã đánh vào Thăng Long rồi ra thả neo ở đúng khúc sông Luộc ngay bến Lưu Xá (nay là thôn Lưu Xá, xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Rồi chính Chế Bồng Nga cũng tử trận tại đây (Xin nói thêm sau này một số gia đình người Lưu Xá di cư lên Thái Nguyên lập làng mới trên đó vẫn giữ tên làng Lưu Xá. Nói như vậy để thấy việc rời mộ vua Thái Tông và Thánh Tông khỏi nơi đất thiêng là bất đắc dĩ nhưng mặt khác cũng là để quy tập về quê gốc An Sinh, lúc này đã xây dựng Đền Sinh thờ chung tất cả các vị vua Trần. Ta chưa có căn cứ để biết chính xác hai mộ vua Thái Tông và Thánh Tông đưa về đây đặt ở chỗ nào. Rất có thể hai mộ đó cũng đặt trong Thái Lăng bởi đền Thái thờ các vị ấy đã xây ở đó. Đây lại là một lẽ để ta nhấn mạnh thêm vị trí đặc biệt của Đền Thái. Một điều đáng chú ý nữa là nơi Đền Thái xưa sau có tên là Đồi Đình bởi dân làng Đốc Trại đã xây dựng ngôi đình tại đây và thờ tám vị vua Trần làm Thành hoàng làng. Cũng tại đây, năm 1993, nhân dân địa phương đã xây một ngôi đền nhỏ đặt tên là “Đại Vương đền” và cũng gọi là Đền Thái. Các nhà khảo cổ của Viện Khảo cổ đã cùng với Ban Quản lý các di tích trọng điểm tỉnh tổ chức nhiều đợt khai quật để tìm các di vật kiến trúc và thờ phụng, đồng thời xác định nền móng và diễn biến của các quá trình xây dựng tại nơi này. Các kết quả khai quật cho thấy quy mô rất lớn và các vật liệu kiến trúc, trang trí rất đặc sắc của thời Trần để thêm căn cứ kết luận vị trí đặc biệt của Đền Thái.
Từ những nhận biết nói trên, tôi hoàn toàn nhất trí với đề xuất của Ban Quản lý các di tích trọng điểm Quảng Ninh là cần đầu tư lớn để phục dựng Đền Thái. Tôi đề nghị là nên tìm lại các bản vẽ rất tỉ mỉ của cố PGS Nguyễn Du Chi, đồng thời nghiên cứu kỹ các di vật khai quật được để phục dựng lại Đền Thái trên nền đền cũ với quy mô tương ứng.