Một miền mây nước - Một miền thơ

Trong dịp kỷ niệm 722 năm ngày chiến thắng Bạch Đằng giang lịch sử (tháng 4-2010), UBND huyện Yên Hưng đã trao Giải thưởng Văn nghệ Bạch Đằng giang lần thứ nhất.

Đây là một giải thưởng sang trọng, 5 năm xét và trao một lần, cho các tác phẩm văn học và nghệ thuật của các tác giả hội viên Hội Văn học Nghệ thuật huyện Yên Hưng. Điều đó ghi nhận một giá trị văn hoá, thể hiện tầm nhìn chiến lược có tính trí tuệ của các đồng chí lãnh đạo địa phương này, một huyện thuần nông nằm hai bên bờ sông Bạch Đằng, con sông thiêng hơn 7 thế kỷ nay, vẫn chảy khôn nguôi và luôn thao thức, trong tâm hồn mọi người dân Việt Nam yêu nước, dù ở bất cứ chân trời nào.

Ba tập thơ "Sóng trắng, nắng hanh" của Lê Hữu Lịch, "Bến Ngự trăng thơ" của Lê  Duy Thái, "Khoảng trời xuân" của Lê Tín đã được nhận giải lần đầu vinh dự này, cùng với một số tác phẩm ở một số loại hình văn hoá, văn học nghệ thuật khác. Về thơ ở Yên Hưng, ngoài 3 tác giả trên, còn một số cây bút khác rất được chú ý, nổi trội hơn cả là Vũ Hữu Thỉnh và Dương Phượng Toại. Vũ Hữu Thỉnh 5 năm qua không xuất bản thơ. Dương Phượng Toại đang lên tay hơn trong truyện ngắn và ký văn học và tập sách mới của anh đã nhận giải cao nhất về văn xuôi trong Giải thưởng lần này.

Nếu làm một phép thống kê đơn giản cũng có thể thấy, những thành tựu đổi mới có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với một vùng đất cổ. Trong 25 năm qua, những cải thiện rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, cùng với những chiến công đánh giặc giữ nước từ thời Hưng Đạo đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại là đánh Pháp và đánh Mỹ đến nay, về mặt cơ bản, đã được phản ảnh hầu như đầy đủ qua các tác phẩm văn học ở vùng đất này. Mặc dù đó là cái nền tảng của hiện thực, cái tầm cao của tư tưởng, cái mà chúng ta có đủ lý do chính đáng để trân trọng và tự hào, nhưng tôi vẫn nghĩ, cái đó không chỉ riêng của thơ, mà của toàn bộ giá trị tinh thần mà Đảng bộ và nhân dân huyện Yên Hưng đã có được. Và điều đó phản ánh chân thực không chỉ qua 3 tập thơ này.

Vậy thì phần trình bày của tôi phải là cái tinh chất của cuộc sống, của tâm hồn con người, đời sống trên mảnh đất này, được khúc xạ như thế nào, qua những đặc trưng nghệ thuật, dù ít, dù nhiều, đó mới là cái đưa 3 tác phẩm này vào giải và xác định được sự đóng góp, dù còn khiêm nhường. Và đóng góp đó, dẫu sao, vẫn phải là đóng góp cho nghệ thuật và từ nghệ thuật thi ca.

Chiến thắng vĩ đại Bạch Đằng giang lịch sử, sau những kiệt tác của nền văn chương Việt Nam từ thế kỷ XIII, đến lượt các thế hệ ngày hôm nay, tại các làng quê bên bờ con sông hùng vĩ này: Sông chảy trắng thời gian/ Sóng lật từng trang sách, các tác giả Yên Hưng giúp chúng ta nhận biết thêm được điều gì? Tiếng quân hô, giáo gẫy ngày xưa/ Còn xôn xao rừng sú vẹt bây giờ. Xem ra Lê Hữu Lịch nặng nợ với quá khứ hơn cả. Khoảng đường từ Nhà máy kẽm Quảng Yên ra Miếu Vua Bà, trên Quốc lộ 10 vô cùng quen thuộc, không phải ai cũng nhận ra, đấy là bãi chôn tập thể của hàng ngàn xác giặc táp lên gò lên đống mà Mùi xú uế bay lên đen ngọn gió. Hai câu thơ rất gợi: Ta đốt cháy câu thơ chiều bỏng rát/ Buông tàn rơi xuống cỏ, tím gò hoang… Chạm vào hàng cọc gỗ còn được bảo tồn bên đường, ông nhận ra: Bàn tay ta chạm phải/ Dấu tay thời Đông A, tức là dấu tay của người dân thời Trần, đóng cọc xuống sông Bạch Đằng 722 năm trước. Trong bài Uống trà dưới trăng ở đền Trần, ông có hai câu thơ rất gợi: Chén nhỏ trong tay dường như lạ/ Uống mãi mà sao nguyệt vẫn đầy… Cũng cảm quan lịch sử đã được nghệ thuật hoá ấy, ông nhận ra Trăng trên miếu Vua Bà: Trăng tuôn bạc xuống tràn bến nước/ Hương huệ tan vào ngọn gió khuya… Viết về lai lịch của Làng Rừng, hai câu thơ này của ông có chiều sâu của thời gian: Ở nơi núi thẳm rừng thiêng/ Con dao phải sắc, câu liêm phải dài… Có một cái gì xa rộng hơn vượt ra ngoài câu thơ, làm ta ngẫm nghĩ đến cái nghiệt ngã muôn đời của sự sống.

Thơ Lê Duy Thái thoáng hơn, tốc độ nhanh hơn, dáng dấp hiện đại hơn, cũng khái quát hơn: Đất linh không tựa vào núi/ Sáng lên từ cõi thiện tâm… Đã có cái tiêu dao của người già phảng phất muôn xưa: Bến xưa trắng một bông lau/ Khách xưa trắng một mái đầu gió sương… Ông viết về Bến Ngự: Bến cũ chở đầy mây trắng/ Hoàng hôn cháy rực bờ lau… Ông có câu thơ rất gợi: Nước đi ở lại chòm mây bạc…

Lê Tín nặng lòng hơn với những nỗi niềm của ngày hôm nay. Thơ ông thấy rất rõ sự học hỏi của ông, với cố gắng vươn tới vẻ đẹp cân đối hài hoà của ca dao và của câu thơ cổ điển: Chốn chơi nhị bán, hoa mua/ Bồng bềnh mây sớm, đong đưa ráng chiều… Hoặc: Lặng nhìn quả chín cành cao/ Ngày đau đáu đợi, đêm khao khát chờ… Ông thiên về số phận con người trong mọi diễn biến của đời sống. Nói chung, ông nhìn đời bằng con mắt bao dung, độ lượng và luôn tin vào tương lai: Em như bông cúc chiều thu/ Vẫn dâng hương muộn cho dù sắc phai. Ông viết về quê hương: Thương em ngày về khai hoang/ Đất bệt dính giầy, trật dép/ Quai đê cộn bờ sú vẹt/ Phát hoang lau lác ngập đầu… Có buồn, nỗi buồn cũng nhẹ nhàng, nhưng vẫn thấm thía: Cái thời như hạt mưa sa/ Cứ đau đáu đợi mưa qua vườn hồng/ Cái thời chồng chẳng nên chồng/ Cứ xô dạt giữa long đong kiếp người… Ông có hai câu thơ viết về cô gái quê, bôn ba ở xứ người: Em đi lạc nước, lạc trời/ Cầm duyên xứ lạ trao người dửng dưng… Ở những câu thơ như thế, thơ ông đã chạm được vào cái thầm lặng sâu thẳm của lòng người, của cõi người: Thôi đành ngày nắng đêm sương/ Sóng xô dạt sóng, thuyền vương vấn thuyền/ Mảnh đời ai xuống ai lên…/ Biết đâu kẻ ác người hiền mà theo...   Trong các tác giả thơ Yên Hưng, Lê Tín luôn cho thấy ông là người biết chăm chút câu thơ, thấy rõ dấu ấn của lao động nghệ thuật. Nhiều câu, ông đã viết không phải bằng thực tế mà bằng hồn. Có gì xa rộng thấm cái mênh mang của cõi người: Bõ ngày dãi nắng dầm mưa/ Muối xa xót ruột, khế chua chát lòng/ Đưa nhau đến cõi Vô Cùng/ Yêu thương khát vọng tình trong cõi người… Có gì băn khoăn, câu thơ đã chạm đến cái xa xôi của vô thức: Nhặt mãi chưa đầy vùng thức tỉnh/ Thiếu cái gì đây của kiếp người?…

Ba tập thơ trên, nội dung không phải chỉ có thế. Phạm vi phản ánh xa rộng hơn rất nhiều. Nhưng như tôi đã trình bày ở trên, tôi chỉ chọn nét gì là của riêng Yên Hưng, đặc sắc gì là đóng góp riêng của tác giả, không phải chỉ cho thơ ở Yên Hưng, góp phần làm cho một vùng mây nước bất tử này thành những câu thơ có sức neo giữ lâu dài trong tâm hồn bạn đọc.

Cùng chuyên mục