Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm buôn người

Buôn bán người hiện nay đang trở thành vấn nạn, có nguy cơ lan rộng không những ở nước ta mà cả các nước trên thế giới, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội.

Trong những năm gần đây, mặc dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng trong việc đấu tranh, triệt phá các đường dây buôn bán người, giải cứu nhiều nạn nhân, truy tố xét xử nghiêm minh đối với các đối tượng phạm tội, nhưng tội phạm buôn bán người (bao gồm cả mua bán người lớn và trẻ em) vẫn có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin phân tích một số nguyên nhân chủ yếu, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người trong giai đoạn hiện nay.

Trước tiên, chúng tôi thấy, trong hầu hết các vụ án buôn bán người, các bị hại ( nạn nhân) mà đa phần là phụ nữ và trẻ em đều xuất thân ở những vùng nông thôn còn nhiều khó khăn về kinh tế, lạc hậu về xã hội và đặc biệt là rất thiếu hiểu biết về pháp luật. Tuyệt đại đa số không biết về tác hại, hậu quả do tội phạm này gây ra, cũng như không biết các thủ đoạn xảo quyệt của bọn tội phạm đã sử dụng để lừa gạt họ. Cho nên  nhiều người đã cả tin nghe chúng rủ rê, lôi kéo đi nơi khác lấy chồng để đổi đời hoặc kiếm công việc làm ổn định với mức lương cao (thậm chí đồng ý ra nước ngoài). Nhiều trường hợp trẻ em hoặc người chưa thành niên do ham chơi, đua đòi, sớm thoát ly khỏi sự quản lý của gia đình cũng bị chúng dùng chiêu bài rủ rê đưa đi chơi, cho ăn uống, mua sắm quần áo, rồi từ đó chúng đưa vào các ổ mại dâm hoặc đưa ra nước ngoài bán cho các ổ mại dâm hoặc bán cho người nước ngoài lấy làm vợ...Thậm chí, nhiều trường hợp do khó khăn về kinh tế, mà nhiều người đồng ý cho con gái mới 13-14 tuổi sang Trung Quốc lấy chồng để nhận số tiền từ 05 triệu đến 20 triệu đồng hoặc bán cả con mới đẻ của mình cho người khác, mà không biết thực chất con cái mình bị đưa đi đâu hoặc sử dụng vào việc gì...

Vì vậy, giải pháp rất quan trọng để ngăn ngừa tệ nạn buôn bán người là chúng ta phải tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền pháp luật trong quần chúng nhân dân, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, khu vực khó khăn, lạc hậu về kinh tế, xã hội...để nhân dân thấy được tác hại, hậu quả nghiêm trọng của tệ nạn này cũng như thấy được những thủ đoạn, phương pháp chúng thường dùng để lừa gạt, từ đó có ý thức, biện pháp tự bảo vệ mình và người thân trong gia đình, không mắc vào cạm bẫy của chúng, đồng thời tố giác với cơ quan chức năng kịp thời phát hiện, xử lý những kẻ có hành vi mua bán người

Thứ hai, chúng tôi thấy, mặc dù BLHS nước ta đã dành 02 điều quy định về tội phạm buôn bán người với những chế tài hình phạt tương đối nghiêm khắc ( Điều 119 quy định về tội "Mua bán người" và Điều 120 quy định về tội "Mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em"), nhưng nhìn chung nội dung điều luật quy định về tội phạm BBN chưa tương tích với quy định của pháp luật quốc tế, thể hiện ở cấu trúc điều luật chưa mô tả cấu thành cụ thể về hành vi mua bán người, đồng thời các cơ quan tư pháp trung ương cũng chưa có thông tư liên tịch quy định, giải thích cụ thể về nội dung này, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong khởi tố, điều tra, xử lý một số vụ án có dấu hiệu đưa người ra nước ngoài bán còn khác nhau. Theo quy định của pháp luật quốc tế, thì bất cứ hành vi nào như tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp...người khác nhằm mục đích bóc lột sức khỏe, nhân phẩm...thì đều có thể coi là phạm tội buôn bán người. Nhưng pháp luật nước ta, chỉ coi là tội phạm khi chứng minh được việc có hành vi trao đổi, chuyển giao người giữa người này với người khác (coi con người như hàng hóa)  còn nếu không có yếu tố này thì không phạm tội mua bán người. Chính vì cách hiểu này hiện nay đã hạn chế hiệu quả đấu tranh trong xử lý tội phạm BBN. Đặc biệt  trong tình hình hiện nay, tuyệt đại đa số các vụ án BBN ở Quảng Ninh, các đối tượng thường lừa đưa phụ nữ, trẻ em sang Trung Quốc bán và thường bị bắt quả tang khi đang tìm cách vượt biên trái phép. Quá trình điều tra, đa phần không làm rõ được đầu mối liên quan mua bán người bên kia biên giới, còn người bị hại cũng không biết việc mình bị lừa đem đi bán, nên việc kết tội bị can thường chủ yếu dựa trên lời khai nhận tội của họ là chính. Chính vì vậy, nhiều đối tượng khi bị bắt chỉ nại ra việc đưa bị hại sang Trung Quốc tham quan, tìm kiếm việc làm hoặc lấy chồng do họ tự nguyện...là cơ quan pháp luật gặp khó khăn trong việc kết tội đối với họ và có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm.Ví dụ vụ Nguyễn thị Hiếu có hành vi lừa đưa các cháu Lệ, Huệ, Mai sang Trung Quốc với lời hứa là sang kiếm việc làm. Nhưng mục đích chính theo bị can khai là đưa các cháu sang Trung Quốc để bắt làm bất cứ việc gì. Do bị can khai như trên, nên các cơ quan pháp luật không xử lý bị can về tội "Mua bán phụ nữ" được vì không chứng minh được ý thức "Mua bán người" của bị can, mà phải thay đổi tội danh sang tội "Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài". Nếu theo quy định của pháp luật quốc tế, thì hành vi trên đã phạm tội BBN và thực sự phải truy tố tội danh này thì mới phản ánh đúng bản chất tội phạm và việc xử lý sẽ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm. Mặt khác, cũng do vận dụng thuần túy khái niệm mua bán người, không tính đến yếu tố khác như mục đích vụ lợi, thái độ của bị hại mà có trường hợp truy tố không chính xác. Ví dụ trường hợp Vũ Thị Nhài lấy chống ở Trung Quốc từ năm 1990, đến năm 2005 về quê chơi, thấy em gái là chị Vũ Thị Bưởi đã quá lứa, không lấy được chồng, và có ý muốn sang Trung Quốc lấy chồng, nên Nhài đã dẫn chị Bưởi sang Trung Quốc lấy chồng và được người này trả công 5000 NDT. Số tiền này, Nhài dùng một phần mua chi phí cho chị Bưởi khi đi lấy chồng, một phần gửi về cho mẹ ở Việt Nam . Bản thân Nhài không được hưởng lợi trong việc này. Tuy nhiên, do thấy hành vi của Nhài đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội " Mua bán người", nên Viện kiểm sát vẫn truy tố Nhài về tội này. Khi xét xử, Tòa án đánh giá bản thân Nhài không vụ lợi và thực hiện việc đưa chi Bưởi sang Trung Quốc lấy chồng theo nguyện vọng chị Bưởi và có sự bàn bạc thống nhất trong cả gia đình, nên đã tuyên bố Nhài không phạm tội đối với hành vi trên.Do đó, chúng tôi đề nghị Nhà nước cần sớm ban hành luật phòng chống BBN, đồng thời bổ sung, thay đổi nội dung các điều 119, 120 BLHS theo hướng tiếp cận quy định pháp luật quốc tế về nội dung cấu thành tội phạm BBN; xây dựng khái niệm pháp lý về hành vi mua bán người theo hướng, hình sự hóa các hành vi: tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận đối tượng bị mua bán (nạn nhân), hành vi nhận con nuôi trái pháp luật...; quy định cụ thể phương thức thực hiện tội phạm, động cơ, mục đích phạm tội...

Mặt khác, tội phạm BBN là loại tội đặc biệt nguy hiểm, gây nguy hại lớn cho xã hội. Nó không chỉ xâm phạm sức khoẻ, tự do, danh dự, nhân phẩm của người bị buôn bán mà còn có thể dẫn tới thiệt hại về tính mạng của nạn nhân như trường hợp mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, để đưa vào các ổ mại dâm khiến tính mạng của nạn nhân bị đe doạ nghiêm trọng... Đối với người thân của nạn nhân thì, hành vi phạm tội BBN còn gây ra những đau đớn vô độ về tinh thần. Đó là sự lo lắng về việc  người thân của mình còn sống hay đã chết; và nhiều trường hợp tuy còn sống nhưng vĩnh viễn không tồn tại mối liên hệ với nhau. Vì vậy, có thể nói tội phạm BBN gây nguy hiểm cho xã hội không kém bất cứ loại tội đặc biệt nghiêm trọng nào khác (như tội Giết người, Hiếp dâm trẻ em...). Vậy mà, chế tài đối với tội phạm BBN có phần nương nhẹ. Cụ thể, Điều 119 BLHS quy định tội "Mua bán người" chỉ có 02 khung hình phạt, thấp nhất là hai năm tù, cao nhất là 20 năm tù; Điều 120 BLHS quy định tội "Mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em" cũng chỉ có 02 khung hình phạt, thấp nhất là 03 năm tù, cao nhất là tù Chung thân. Trong khi đó, các loại tội đặc biệt nghiêm trọng khác như Giết người, Hiếp dâm trẻ em đều quy định mức hình phạt cao nhất là Tử hình. Để góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm BBN, thiết nghĩ, cần sửa đổi pháp luật hình sự theo hướng tăng mức hình phạt đối với loại tội phạm này và nên chia thành 03 khung hình phạt để bảo đảm cho việc vận dụng xử lý được chặt chẽ, sát đúng tính chất hành vi phạm tội.

Cùng chuyên mục