Sau hơn 2 năm giải quyết khiếu nại không thành, ông Nguyễn Ngọc Hào trú tại số 24 phố Phạm Ngũ Lão, thị trấn Quảng Yên (Yên Hưng) được TAND huyện Yên Hưng thụ lý vụ án dân sự vào ngày 10-8-2004.
Năm 1946, bà Nguyễn Thị An (mẹ ông Hào) có 2 ngôi nhà xây trên mảnh đất 398m2, thuộc thửa số 01, tờ bản đồ số 8. Đến tháng 11-1959, bà An bán 1 ngôi nhà 3 gian cho Công ty vật liệu với diện tích đất 96m2. Đến năm 1981, bà An cho con trai là ông Nguyễn Ngọc Hiệu 1 thửa đất gần 79,6m2. Như vậy, số diện tích đất còn lại của bà An là 222,4m2 và bà An sống cùng con trai út là ông Nguyễn Ngọc Hào từ đó cho đến năm 2000 thì bà An mất. Năm 1996, UBND huyện Yên Hưng đã bán thanh lý ngôi nhà 3 gian của Công ty vật liệu (mua của bà An từ năm 1959) cho 3 người là bà Vũ Thị Rộng, ông Phong và bà Bé mỗi người một gian. Sau đó bà Rộng đã mua lại gian nhà của ông Phong. Đến năm 2000, gia đình bà Rộng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) có diện tích 71,7m2. Tháng 2-2002, gia đình ông Hào phát hiện phần đất cho bà Rộng mượn để lấy lối đi ra sau nhà đã được UBND huyện Yên Hưng, trong quá trình thanh lý nhà đã hợp thức hoá vào giấy CNQSDĐ của nhà ông Tính (là con trai được quyền thừa kế của bà Rộng). Đồng thời, gia đình ông Tính đã xây dựng công trình phụ trên phần đất mà bà An cho mượn. Vì vậy, ông Hào đã làm đơn kiện gia đình ông Tính và UBND huyện Yên Hưng để đòi lại phần đất đã cho mượn.
Sau khi thụ lý đơn của ông Hào vào tháng 8-2004, đến ngày 6-10-2005, tại phiên toà xét xử sơ thẩm, TAND huyện Yên Hưng đã bác đơn khởi kiện đòi lại phần đất cho mượn của gia đình ông Hào đối với gia đình ông Tính. Không đồng ý với quyết định này của Toà án, ông Hào đã làm đơn gửi lên TAND tỉnh. Ngày 20-3-2006, tại phiên toà xét xử vụ án dân sự giữa ông Hào và ông Tính, TAND tỉnh đã ra bản án số 09 có nội dung “huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 01 ngày 6-10-2005 của TAND huyện Yên Hưng, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung”. Sau đó, ông Hào đã thay đổi nội dung khởi kiện đó là yêu cầu huỷ hợp đồng mua bán tài sản (nhà và đất) giữa UBND huyện Yên Hưng với bà Vũ Thị Rộng (thừa kế là ông Tính) vào năm 1996 vì đã lấn chiếm 10,2m2 của gia đình ông Hào. Tại phiên toà xét xử sơ thẩm lần 2, ngày 26-6-2006, tại bản án số 17 của TAND huyện Yên Hưng có nội dung “Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc Hào. Buộc UBND huyện Yên Hưng làm thủ tục thu hồi 10,2m2 đất cấp nhầm cho bà Vũ Thị Rộng, có người đại diện là ông Bùi Văn Tính để trả lại cho gia đình ông Nguyễn Ngọc Hào. Tiếp đó, đến bản án phúc thẩm lần 2 số 38, ngày 6-9-2006 của TAND tỉnh có nội dung “y án sơ thẩm theo bản án số 17 của TAND huyện Yên Hưng”.
Không đồng ý với quyết định trên, ông Bùi Văn Tính đã làm đơn khiếu nại gửi lên VKSNDTC, đến ngày 28-9-2007, VKSNDTC đã ra quyết định kháng nghị số 111, đề nghị TANDTC mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử lại vụ án này. Theo quyết định bản án giám đốc thẩm số 369, ngày 21-12-2007 của Toà Dân sự, TANDTC nhận định “ông Nguyễn Ngọc Hào có quyền đòi lại diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông do bị bán nhầm nếu có căn cứ chứng minh và có quyền yêu cầu huỷ một phần hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa UBND huyện với các hộ mua nhà... Khi giải quyết hợp đồng thì phải giải quyết hậu quả pháp lý đối với phần hợp đồng bị huỷ và phải xử lý đối với phần tài sản có trên đất mới đảm bảo quyền lợi của các bên. Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc UBND huyện Yên Hưng làm thủ tục thu hồi 10,2m2 đất cấp nhầm cho gia đình bà Rộng là không đúng thẩm quyền (theo trình tự tố tụng) và không xem xét đến phần tài sản trên đất của gia đình ông Tính, không huỷ một phần hợp đồng thanh lý nhà đất giữa UBND huyện Yên Hưng với gia đình bà Rộng và giải quyết hậu quả pháp lý với phần hợp đồng bị huỷ là không đảm bảo quyền lợi của các bên theo quy định của pháp luật”. Đồng thời, quyết định giám đốc thẩm tuyên huỷ bản án sơ thẩm số 17 của TAND huyện Yên Hưng và bản án phúc thẩm số 38 của TAND tỉnh và giao hồ sơ về TAND huyện Yên Hưng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Sự việc đến đây tưởng đã rõ ràng, và sẽ được giải quyết dứt điểm. Tuy nhiên, tại bản án sơ thẩm dân sự số 7, ngày 6-8-2008 của TAND huyện Yên Hưng lại không tuân thủ theo trình tự giải quyết theo hướng dẫn tại Quyết định giám đốc thẩm số 369 của TANDTC. Vì vậy, ngày 11-9-2008, VKSND tỉnh đã có quyết định số 02 “kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 7, ngày 6-8-2008 của TAND huyện Yên Hưng theo trình tự phúc thẩm. Đề nghị TAND tỉnh xét xử phúc thẩm theo hướng huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 7, ngày 6-8-2008 của TAND huyện Yên Hưng, giao hồ sơ về TAND huyện Yên Hưng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật”. Quyết định kháng nghị của VKSND tỉnh nêu rõ Bản án sơ thẩm số 7, ngày 6-8-2008 của TAND huyện Yên Hưng quyết định “Huỷ một phần hợp đồng mua bán nhà đất giữa UBND huyện Yên Hưng và gia đình ông Tính là phù hợp Điều 135 của Bộ luật dân sự”. Tuy nhiên, khi xét xử sơ thẩm, bản án số 7 của TAND huyện Yên Hưng đã không buộc gia đình ông Tính phải trả cho UBND huyện Yên Hưng phần diện tích đất 10,2m2 đã nhận và buộc UBND huyện Yên Hưng phải bồi thường thiệt hại cho gia đình ông Tính về công trình xây dựng và các thiệt hại khác là trái điều 137 Bộ luật dân sự. Mặt khác bản án sơ thẩm cũng không buộc UBND huyện Yên Hưng và ông Tính phải trả 10,2m2 đất cho gia đình ông Hào mà lại buộc gia đình ông Hào nhận khoản tiền (giá trị 10,2m2 đất) từ UBND huyện Yên Hưng trong khi không có quyết định thu hồi đất là trái điều 32 Luật Đất đai năm 2003.
Hành trình đi đòi lại 10,2m2 đất của ông Nguyễn Ngọc Hào quả là gian nan. Bởi một vụ án dân sự không quá phức tạp nhưng đã kéo dài tới 5 năm và trải qua 6 phiên toà xét xử từ cấp sơ thẩm, phúc thẩm đến giám đốc thẩm... rồi lại quay lại điểm xuất phát là cấp sơ thẩm thuộc TAND huyện Yên Hưng. Vì sao các bản án đã tuyên xử và có hiệu lực lại liên tiếp bị huỷ? Câu trả lời xin nhường cho ngành Toà án và các cơ quan pháp luật có thẩm quyền.