Có thể nói, hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ (KH&CN) trong những năm qua đã từng bước chú trọng đến việc cung cấp luận cứ, cơ sở khoa học phục vụ cho quản lý điều hành vĩ mô của lãnh đạo tỉnh.
Nghiên cứu, tạo giống lúa mới tại Công ty CP Giống cây trồng Quảng Ninh.
Thành tựu từ các ngành, lĩnh vực
Một số nhiệm vụ như: Đánh giá trình độ công nghệ các ngành kinh tế trọng điểm; trình độ nguồn nhân lực KH&CN; nghiên cứu xây dựng một số chỉ tiêu chủ yếu đánh giá tăng trưởng kinh tế bền vững trên địa bàn tỉnh… khi hoàn thành đã giúp các nhà lãnh đạo, các ngành, các địa phương biết được những khó khăn, thuận lợi và tạo ra sự so sánh ngành mình với mặt bằng chung trong cả nước để có tầm nhìn toàn diện, chính xác trong việc xác định lộ trình đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015 (trước cả nước 5 năm). Chỉ tính riêng trong 8 năm trở lại đây, toàn tỉnh đã triển khai được 131 đề tài, dự án nghiên cứu KH&CN (gọi chung là đề tài) trải rộng trên tất cả các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn với mức kinh phí đầu tư trên 30 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư cho các đề tài đã tăng lên đáng kể qua các năm, cá biệt có những đề tài được đầu tư trên 2 tỷ đồng. Nhờ vậy, các đề tài KH&CN đã được triển khai sâu rộng hơn, có hiệu quả hơn.
Sự đóng góp của ngành KH&CN trong những năm qua đã góp phần không nhỏ đẩy nhanh lộ trình tiến tới đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh công nghiệp. Nhờ ứng dụng nhanh các công nghệ hiện đại, các ngành: Than, đóng tàu, xây dựng, giao thông vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng… đều đạt được thành tựu nhất định. Đối với ngành Than, việc ứng dụng thành công cột chống thuỷ lực đơn và dàn chống mềm di động cùng công nghệ khấu than ở các mỏ than hầm lò đã tạo ra bước đột phá, làm tăng năng suất lao động, giảm tổn thất tài nguyên, hạn chế sử dụng gỗ trụ mỏ. Ngành đóng tàu, bằng các ứng dụng hiện đại đã cho hạ thuỷ những con tàu có trọng tải lên đến 53.000 tấn (được coi là con tàu trọng tải lớn nhất được đóng trong nước); ngành sản xuất VLXD hiện nay cũng đang sử dụng các công nghệ thu hồi khí thải lò nung để sấy khô sản phẩm. Dùng khí hoá than thay gas, thay dầu làm giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, những tiến bộ mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông hiện nay cũng đã được các doanh nghiệp trên địa bàn nghiên cứu ứng dụng vào điều hành sản xuất. Tại một số Nhà máy: Kính Cẩm Phả, Xi măng Lam Thạch, Bia Hạ Long, Nước lọc Lavie… đã thực hiện thành công công nghệ tự động hoá trong các công đoạn từ phối liệu đến đóng gói sản phẩm. Đa số quy trình sản xuất đều được thao tác trên máy móc và có hệ thống điều khiển trung tâm hiện đại giúp người quản lý nắm bắt được tình hình sản xuất cũng như kịp thời xử lý các sự cố.
Nhìn lại sau 12 năm (1996-2008) triển khai thực hiện Nghị quyết T.Ư 2, khoá VIII về công tác KH&CN ở tỉnh nhà, ngoài sự tham gia đắc lực của ngành KH&CN vào các lĩnh vực mũi nhọn (vốn được coi là lợi thế) của tỉnh, còn có thể ghi nhận một bức tranh toàn cảnh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các vùng nông thôn đang ngày một khởi sắc. Điều này thể hiện ở các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp ngày càng đi vào thực tế, triển khai sâu rộng và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Một số đề tài như: Công nghệ sản xuất cá rô phi siêu đực; công nghệ tạo nguồn tôm chân trắng Nam Mỹ bố mẹ tại chỗ, từ việc nuôi vỗ đàn tôm thịt; khảo nghiệm các giống lúa mới cho năng suất cao: Hương thơm 1, Khâm Dục 2, Hồng Công 1… đã được người dân ứng dụng rất hiệu quả. Nhờ các dự án này, hàng ngàn nông dân các địa phương đã kịp thời chuyển đổi phương thức sản xuất, rũ bỏ lối thâm canh cây trồng kém hiệu quả trước đây bằng cách áp dụng KHKT mới trong chăn nuôi, trồng trọt. Sử dụng cây, con giống chất lượng cao hơn để thoát đói nghèo, vươn lên làm giàu. Mức thu nhập bình quân của nhiều hộ gia đình thuần nông hiện nay sau khi trừ mọi chi phí có thể đạt trên dưới 100 triệu đồng/năm. Những “triệu phú nuôi tôm” “triệu phú trồng rừng” bây giờ cũng không còn hiếm nữa.
Người dân huyện đảo Vân Đồn áp dụng mô hình nuôi cá lồng trên biển để phát triển kinh tế.
Cần có sự đầu tư thích đáng để phát huy các yếu tố nội lực
Bên cạnh những mặt đã đạt được, hoạt động KH&CN hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn do sự đòi hỏi về trình độ quản lý, chuyển giao công nghệ ngày càng cao, trong khi sự đào tạo chuyên sâu các ngành này không phải lúc nào cũng đáp ứng được. Nhiều đề tài, dự án được đầu tư nhiều vốn nhưng hiệu quả chưa cao, việc triển khai ứng dụng KH&CN cho người dân còn hạn chế…. Chính vì vậy việc phát triển cơ sở vật chất và nguồn nhân lực phục vụ cho KH&CN cần phải được chú trọng hơn nữa. Những năm qua, lực lượng cán bộ KH&CN của tỉnh thông qua quá trình tự đào tạo và đào tạo lại đã trưởng thành một bước, thích nghi với nền kinh tế thị trường và có những đóng góp có giá trị về KH&CN. Hiện nay toàn tỉnh có trên 30 ngàn cán bộ KH&CN, trong đó trình độ trên đại học khoảng 250 người. Hàng năm, các cán bộ này đều tham gia các khoá học để nâng cao trình độ chuyên môn, những kiến thức mới về KH&CN. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một thực tế rằng, hiện nay mức đầu tư nguồn nhân lực KH&CN ở tỉnh ta còn nhiều hạn chế, nguồn nhân lực trình độ cao vẫn thiếu trầm trọng. Chưa kể sự đầu tư cho vấn đề này có lúc vẫn dàn trải, “nơi cần thì không có, nơi có thì chưa cần”. Vấn đề đào tạo chuyên môn có nơi vẫn chưa được nhận thức thấu đáo. Điều này có thể dẫn đến việc phát triển thiếu tính bền vững của ngành KH&CN trong tương lai không xa.
Về cơ sở vật chất cũng như mạng lưới hoạt động cho nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN ở cấp cơ sở hiện nay cũng đã được quan tâm, chú trọng hơn. Các Trung tâm nghiên cứu, phòng phân tích, thí nghiệm, cơ sở sản xuất không ngừng được đầu tư về cơ sở vật chất để có đủ năng lực tiếp thu và làm chủ các công nghệ nhập khẩu, đóng vai trò tiếp nhận, nghiên cứu và chuyển giao các công nghệ mới, nhất là lĩnh vực công nghệ sinh học trong nông nghiệp. Tuy nhiên, đối với khu vực cấp huyện, xã vẫn rất cần được đầu tư hơn nữa. Hiện nay cơ sở vật chất KHKT tại các khu vực này tương đối khó khăn. Cán bộ chuyên môn muốn phát triển các nghiên cứu, ứng dụng KHKT là điều không phải dễ thực hiện.
Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết T.Ư 2 (Khoá VIII) và kết luận Hội nghị T.Ư lần thứ 6 (Khoá IX) về KH&CN nhằm đảm bảo cho KH&CN thực sự là động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH của tỉnh thì các cấp, các ngành cần quan tâm đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, công tác nghiên cứu, ứng dụng KH&CN. Đổi mới cơ chế quản lý, tạo động lực phát huy mạnh mẽ tiềm lực KH&CN, coi trọng liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân, nhà khoa học để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tích cực tiếp thu, ứng dụng các thành tựu KH&CN vào sản xuất, quản lý và các lĩnh vực xã hội góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh nhà.