Là trung tâm khai thác than lớn nhất của cả nước với sản lượng hàng chục triệu tấn/năm, Quảng Ninh phải chịu những sức ép rất lớn về môi trường. Vì thế, việc khai thác than phục vụ cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế đất nước kết hợp với bảo vệ môi trường luôn được các cấp chính quyền của tỉnh Quảng Ninh quan tâm.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi trường đối với sự phát triển bền vững của đất nước, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, Quảng Ninh luôn quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên và môi trường trong hoạt động khoáng sản than như các Nghị quyết 36 (1998), Nghị quyết 41 (2004), Chỉ thị 29 (2009) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Luật bảo vệ môi trường (năm 1993; 2005); Luật khoáng sản năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản năm 2005 và các văn bản chỉ đạo về hoạt động khoáng sản than, về bảo vệ môi trường ...
Khai thác than tại Quảng Ninh
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường trên địa bàn theo chỉ đạo của Trung ương, tỉnh đã xây dựng bộ máy tổ chức của Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh trực thuộc Sở Tài nguyên - Môi trường, thành lập Phòng Cảnh sát môi trường trực thuộc Công an tỉnh; tăng cường lực lượng Thanh tra môi trường, trung tâm quan trắc và phân tích môi trường; tích cực triển khai thực hiện các dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững như: dự án hỗ trợ kỹ thuật "Bảo vệ môi trường để phát triển du lịch bền vững tại Hạ Long" do Chính phủ Nhật Bản tài trợ; dự án hỗ trợ kỹ thuật "Nâng cao năng lực quản lý môi trường lĩnh vực nhiệt điện" do Chính phủ Pháp tài trợ...
Tuy nhiên, có một thực tế là sự phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường giữa các ngành, các địa phương còn rất hạn chế; công tác thanh, kiểm tra thực hiện chưa thường xuyên, xử lý chưa kiên quyết, kịp thời, mức độ xử lý còn nhẹ chưa đủ sức răn đe. Lực lượng cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường từ tỉnh đến các địa phương còn thiếu và yếu. Kinh phí xử lý nguồn gây ô nhiễm, ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường... còn rất hạn chế; các dự án triển khai còn chậm, kéo dài làm giảm hiệu quả đầu tư và kéo dài tình trạng ô nhiễm môi trường, gây bức xúc trong nhân dân. Hệ thống văn bản pháp qui về bảo vệ môi trường chậm hoàn thiện; chưa có những cơ chế chính sách để huy động ở mức cao sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp, cộng đồng và toàn xã hội trong việc đầu tư vào lĩnh vực môi trường. Các nhiệm vụ điều tra, đánh giá và xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường chậm triển khai; việc cập nhật biến động về đất đai, tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản... chưa thường xuyên, hệ thống. Ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của nhiều tổ chức, cá nhân và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh còn yếu. Hoạt động khai thác, chế biến, vận chuyển tiêu thụ than với sản lượng tăng gấp nhiều lần so với những năm trước đây nhưng hạ tầng (Hệ thống đường chuyên dùng; hệ thống bến, cảng; khu vực chế biến... ) không được đầu tư tương xứng, đồng bộ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường nước và không khí...
Trước sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động khoáng sản than ở Quảng Ninh trong thời gian gần đây, việc áp dụng pháp luật để quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý cũng như của sự phát triển, do vậy, cần phải có những giải pháp thích hợp để nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực này.
Để thực hiện các mục tiêu "Xây dựng Quảng Ninh trở thành một địa bàn động lực, một trong những cửa ngõ giao thông quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đối với khu vực và quốc tế, một khu vực phát triển năng động của kinh tế ven biển và biển, có tốc tăng trưởng cao và bền vững; có thế và lực ngày càng lớn thúc đẩy sự phát triển và khả năng cạnh tranh”, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh tiếp tục tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội gắn kết với bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, kinh doanh than, khoáng sản ở các địa bàn trọng điểm, trong đó đặc biệt nâng cao trách nhiệm quản lý của chính quyền cơ sở; kiên quyết không để tái diễn tình trạng khai thác, kinh doanh than trái phép. Tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chú trọng quy hoạch sử dụng đất cấp xã; quản lý chặt việc tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đảm bảo thống nhất giữa quy hoạch sử dụng đất với các quy hoạch khác. Tập trung nghiên cứu, điều tra cơ bản các nguồn tài nguyên, điều kiện tự nhiên... phục vụ các yêu cầu khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Đồng thời, từ tình hình thực tiễn địa phương, các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở mà trên địa bàn có hoạt động khoáng sản than cần giám sát đảm bảo việc thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng than tiết kiệm và hiệu quả, góp phần phát triển ngành than ổn định, đáp ứng nhu cầu về than cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời gắn liền với phát triển các lĩnh vực kinh tế-xã hội, du lịch, quốc phòng an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn tỉnh.
Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường phải được tiến hành trên nhiều phương diện, trong đó pháp luật về bảo vệ môi trường là công cụ quan trọng nhất. Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường của Nhà nước, các cấp chính quyền trong tỉnh cần tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn, trong đó có hoạt động khai thác than để tích cực bảo vệ môi trường.