Nét mới của công tác dân số, gia đình và trẻ em

Năm 2006, công tác dân số, gia đình và trẻ em của tỉnh Quảng Ninh đã được tăng cường cả về tổ chức bộ máy, cơ chế chính sách và nguồn lực đầu tư. Những Quyết định hành chính mạnh mẽ, sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, gia đình và trẻ em từ tỉnh đến cơ sở cùng với sự tham gia, hưởng ứng của cộng đồng trong thời gian qua đã tạo nên bước chuyển biến cơ bản trong công tác dân số, gia đình và trẻ em của tỉnh, nhiều cách làm sáng tạo, nhiều mô hình mới được nghiên cứu, triển khai trên cơ sở tập trung vào những đối tượng, địa bàn trọng điểm đã đạt được hiệu quả đáng ghi nhận.

Nét mới của công tác dân số, gia đình và trẻ em ảnh 1

Cán bộ Uỷ ban DS, GĐ&TE huyện Yên Hưng tuyên truyền về dân số - KHHGĐ cho phụ nữ xã Nam Hoà

Công tác dân số-kế hoạch hoá gia đình đã đạt được những kết quả quan trọng, đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Tỷ suất sinh giảm 0,3%o (từ 14,85%o  năm 2005 xuống còn 14,55%o năm 2006). Nét nổi bật là trong tổng số sinh năm 2006 thì tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm từ 7,75% (năm 2005) xuống còn 7,45% (năm 2006), duy trì được mức sinh thay thế, tỷ suất phát triển dân số tự nhiên là 9,99%o, Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai đạt 70,2%, tăng 0,5%. Việc thực hiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, với quyết sách là các Nghị quyết của HĐND các cấp trong thời gian qua, với sự điều chỉnh cơ chế quản lý điều hành của UBND tỉnh, trên tinh thần tăng cường phân cấp, giao quyền chủ động cho các ngành, các địa phương, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã có sự thay đổi nhanh chóng và toàn diện. Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai, thực hiện các mục tiêu ưu tiên vì trẻ em theo Nghị quyết của HĐND tỉnh. Phối hợp với các ngành chức năng chỉ đạo, thực hiện việc quy hoạch, xây dựng điểm vui chơi trẻ em cấp xã, tiếp tục hỗ trợ thiết bị cho các điểm vui chơi đã được đầu tư. Đến hết năm 2006, 14/14 huyện, thị xã, thành phố xây dựng và quản lý, sử dụng tốt trung tâm vui chơi cấp huyện. Hết năm 2006, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm xuống còn 22,5%, đạt kế hoạch đề ra. Ngành đã phối hợp với Công an tỉnh, Biên phòng tỉnh, Sở Y tế, Sở Lao động Thương binh và Xã hội quan tâm triển khai các mô hình mới nhằm giải quyết các vấn đề bức xúc như triển khai các mô hình tư vấn, hỗ trợ trẻ em bị buôn bán, bị xâm hại tình dục, bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ em lang thang; duy trì và nhân rộng mô hình “Phòng ngừa và giáo dục trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em chưa ngoan tại cộng đồng” trên địa bàn toàn tỉnh; triển khai thí điểm mô hình “Giáo dục, dạy nghề tạo việc làm cho trẻ em làm trái pháp luật sau khi từ trường giáo dưỡng trở về địa phương”. Phối hợp tuyên truyền vận động đưa trẻ đến trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cơ sở, giữ vững 100% xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. 100% huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. 100% trẻ em tàn tật, khuyết tật được khám phân loại, tiến hành phẫu thuật cho toàn bộ số trẻ em được chỉ định can thiệp. 98% trẻ em dưới 6 tuổi được cấp phát thẻ khám chữa bệnh. Công tác dân số, gia đình và trẻ em đã từng bước được xã hội hoá. Các cấp, các ngành trong tỉnh đã quan tâm, trợ giúp hàng nghìn lượt trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trị giá hàng tỷ đồng, do đó tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã giảm ở nhiều địa phương, tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được giúp đỡ tăng từ 70% (năm 2000) lên 100% (năm 2006). Các mô hình điểm, những điển hình tiên tiến từng bước được nhân rộng. Do có sự chủ động tích cực của các cấp, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả nên Chương trình bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã đạt và vượt các mục tiêu cơ bản đã đề ra. Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh tập trung khảo sát, khám phân loại và kêu gọi dự án phẫu thuật nhân đạo cho trẻ em dị tật. Đến hết năm 2006, cơ bản số trẻ em bị bại liệt được cấp xe lăn, trẻ em bị dị tật mắt, môi và dị tật vận động có đủ điều kiện phẫu thuật trên địa bàn tỉnh được phẫu thuật và phục hồi chức năng; một số trẻ bị mắc bệnh tim bẩm sinh được khám phân loại và được phẫu thuật miễn phí.

Công tác dân số, gia đình và trẻ em của tỉnh đang đứng trước những khó khăn và thách thức không nhỏ. Quảng Ninh là địa phương có số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có chồng chiếm tỷ lệ cao là 69%. Tỷ lệ tăng dân số cơ học mạnh do lao động ở tỉnh ngoài đến làm ăn sinh sống làm cho sự biến động dân số lớn và rất khó khăn trong việc quản lý dân cư trên địa bàn. Mặc dù tỷ suất sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 của tỉnh đã giảm nhưng không đồng đều; sự chênh lệch về nhận thức và đời sống giữa các vùng còn lớn, việc nâng cao chất lượng dân số chưa được đẩy mạnh. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng một số huyện miền núi còn cao. Tỷ lệ trẻ đi nhà trẻ trong độ tuổi đạt thấp. Trung tâm vui chơi cấp huyện, điểm vui chơi cấp xã còn thiếu, thiết bị vui chơi nghèo nàn, bên cạnh đó sự mất cân bằng về giới khi sinh, trẻ em bị xâm hại, trẻ em vi phạm pháp luật đang có xu hướng gia tăng ở một số địa phương. Số trẻ dưới 16 tuổi ở Quảng Ninh chiếm 31% dân số. Trong đó, số trẻ em sống trong điều kiện thiệt thòi, khó khăn còn khá lớn. Hiện nay, toàn tỉnh hiện có trên 3.000 trẻ em mồ côi, 2.345 trẻ em tàn tật, khuyết tật, trẻ em bị tật nguyền do di chứng chất độc da cam và hàng ngàn trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và đặc biệt khó khăn đang cần sự quan tâm giúp đỡ.

Trước những khó khăn, thách thức đó, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh đã xác định nhiệm vụ trọng tâm năm 2007 như sau:

Phấn đấu duy trì dân số trung bình là 1.194.480, tiếp tục giảm tỷ suất sinh xuống còn 14,25%o (giảm 0,3%o so với năm 2006). Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên xuống còn 7,15% (giảm 0,3% so với năm 2006). Phân bổ dân cư hợp lý theo hướng quy hoạch kinh tế-xã hội của tỉnh, đảm bảo sự phát triển bền vững, chủ động trong quản lý di dân. Giải quyết cơ bản vấn đề tạo việc làm cho người lao động, nhất là lao động nữ, nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, thực hiện công bằng xã hội và nâng cao mức sống của người dân, có chính sách và giải pháp thích hợp để mọi người đều được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ toàn diện. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn 22%o. Nâng tỷ lệ xã, phường, thị trấn xây dựng và quản lý tốt điểm vui chơi dành cho trẻ em lên 80%. 100% huyện, thị xã, thành phố có trung tâm vui chơi cấp huyện được quản lý sử dụng có hiệu quả; 100% trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc.

Để thực hiện tốt mục tiêu trên, năm 2007, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh đã xây dựng một số giải pháp cơ bản. Đó là đẩy mạnh hơn nữa công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực công tác dân số, gia đình và trẻ em; tăng cường kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm, tham mưu cho Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh những chủ trương, biện pháp, chính sách trong các lĩnh vực công tác của các cấp, các ngành có liên quan trực tiếp đến vấn đề dân số, gia đình và trẻ em; tiếp tục nghiên cứu, triển khai mô hình mới, phù hợp, sơ tổng kết các mô hình và nhân điển hình tiên tiến. Tăng cường phối hợp với các ngành, các tổ chức chính trị-xã hội, trước hết là các ngành thành viên, với UBND các huyện, thị xã, thành phố, thực hiện chủ trương xã hội hoá các hoạt động trong lĩnh vực dân số, gia đình và trẻ em. Phối hợp chặt chẽ với các ngành, đoàn thể và tổ chức chính trị-xã hội trên địa bàn tỉnh để triển khai các hoạt động một cách đồng bộ, thống nhất, tập trung vào những đối tượng và địa bàn trọng điểm.

Tích cực khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho công tác dân số, gia đình và trẻ em; mở rộng phạm vi hoạt động, đối tượng vận động để tăng cường nguồn lực cho Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp; tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng mạng lưới cán bộ chuyên trách và cộng tác viên tại cơ sở, đồng thời đẩy mạnh và đa dạng hoá công tác thông tin tuyên truyền, đặc biệt là công tác truyền thông vận động tới vùng dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa, hải đảo.

Cùng chuyên mục