Đó là phát ngôn mà ông Aron Mark Berger, một chuyên gia người Mỹ trong Nhóm hỗ trợ kỹ thuật vùng miền Bắc, đã nêu ra tại Hội thảo đánh giá nhu cầu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng (KBTTNĐS-KT) diễn ra vào tháng 4-2009. Bởi theo ông Aron Mark Berger, nếu không có biện pháp bảo tồn hiệu quả thì sau này còn rừng đâu mà bảo tồn...
Khu bảo tồn Đồng Sơn - Kỳ Thượng có diện tích 15.637 ha. Vùng đệm, vùng lõi của Khu bảo tồn nằm trên đất của 5 xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Vũ Oai, Đồng Lâm, Hoà Bình. Cái khó cho sự hòa hợp giữa khu bảo tồn với các hộ dân sống trong vùng lõi, là mọi hoạt động của người dân, kể cả những việc hết sức bình thường, cũng có thể làm ảnh hưởng tới khu bảo tồn. Đơn giản nhất là người dân vào rừng hái củi khô, việc này chỉ có thể nhắc nhở chứ không thể mang ra xử lý, nhưng nếu để nó tồn tại lâu dài thì sẽ làm mất đi sự đa dạng của hệ sinh thái. Theo tính toán của các chuyên gia rừng Thụy Điển thì cứ khoảng 32 loài gỗ bản địa khi chết đi sẽ hỗ trợ cuộc sống cho 6.000-7.000 loài sinh vật khác. Trong khi đó KBTTNĐS-KT theo tính toán sơ bộ có khoảng 485 loài cây bản địa. Khi cây chết đi chúng sẽ tạo cuộc sống cho nhiều loài nấm, mộc nhĩ, mối mọt, kiến, những loài này lại là thức ăn cho các loài thú nhỏ, thú nhỏ thì là nguồn thực phẩm cho các loài thú lớn... Chưa kể cây mục tạo thành mùn giữ độ ẩm cho đất và trở thành nguồn phân tự nhiên cho các loài cây khác trong rừng. Do vậy đối với khu bảo tồn, dù tác động nhỏ nhất của người dân, nếu lâu dài cũng làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Trong khi số hộ dân của 5 xã sống trong vùng đệm, vùng lõi của Khu bảo tồn là 1.344 hộ, trong đó người Dao chiếm 49,5%, còn lại là người Kinh, Sán Dìu, Hoa. Năm 2003 khi KBTTNĐS-KT được thành lập, đã có 139 hộ dân là người Dao đang sinh sống trong vùng lõi của Khu bảo tồn, và họ đã được cấp quyền sử dụng đất. Điều đó gây không ít khó khăn cho việc quản lý Khu bảo tồn, vì phải tạo ra sự hòa hợp giữa các hộ dân với khu vực bảo tồn. Trong khi số hộ nghèo ở vùng lõi, vùng đệm của Khu bảo tồn cao (khoảng 40%), nhiều người là lao động chính trong gia đình lại không có công ăn việc làm ổn định. Trước đây nhiều người sống bằng nghề săn bắn thú, khai thác tre gỗ, các loại cây về làm thuốc v.v... Khi Khu bảo tồn được thành lập, các hoạt động gây hại cho rừng của họ bị cấm đã tạo ra sự phản đối gay gắt của các hộ dân. Vậy KBTTNĐS-KT nếu chỉ dựa vào sức mình thì liệu có thể bảo vệ được các cánh rừng, trong khi diện tích các khu rừng rộng, khó đi, số cán bộ của Khu bảo tồn ban đầu chỉ có 19 người (nay tăng lên 25 người). Tuy ở các xã ngày nay đã có đường bê tông, nhưng riêng xã Kỳ Thượng cuối năm 2010, đường bê tông nối liền từ thôn Đồng Trà (xã Đồng Lâm) đến trung tâm xã Kỳ Thượng dài 18km, mới chính thức hoàn thành. Còn trước đó thì theo các lãnh đạo Khu bảo tồn: "Cứ hôm nào chúng tôi phân công anh em vào xã Kỳ Thượng công tác là tất cả đều lo lắng, chỉ đến khi các cán bộ này về đến nhà mới hết lo, vì đường sá rất xấu, nhiều cua gấp vực thẳm". Thế nhưng theo các cán bộ kiểm lâm, sau 7 năm hoạt động, tình trạng khai thác săn bắn của người dân đã giảm khoảng 70%. Các cán bộ kiểm lâm khu bảo tồn cũng phải biết nhiều việc, có nghĩa là ngoài công việc của kiểm lâm, họ còn phải tự tìm hiểu kỹ thuật trồng cây con, để giúp đỡ bà con phát triển sản xuất và có thu nhập ngoài rừng, như thế mới hạn chế việc khai thác rừng. Có ý kiến được nhiều người tán thành là còn 30% của công việc bảo vệ rừng mà ta muốn hoàn thành nốt, thì nên tạo cho người dân đang sống ở vùng lõi của Khu bảo tồn một quyền lợi nhất định nào đó, để họ thấy rằng việc bảo vệ rừng gắn liền với cuộc sống của họ. Có nghĩa là khi mất rừng họ cũng mất quyền lợi, và từ đó biến họ trở thành những người bảo vệ rừng. Thế nhưng, ý kiến thì hay, việc thực hiện lại khó. Vì việc làm này đòi hỏi không ít tốn kém, trong khi nguồn ngân sách để hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng của KBTTNĐS-KT rất hạn hẹp, nhiều công việc thiết thực hơn cũng vẫn chưa biết trông vào nguồn ngân sách nào. Theo tài liệu báo cáo hiện nay của KBTTNĐS-KT thì hệ động vật trong Khu bảo tồn có 249 loài, trong đó có 30 loài động vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam như báo lửa, voọc đen, voọc xám, khỉ vàng, khỉ mặt đỏ, cu li lớn, cu li vắn, gấu ngựa, báo gấm, báo hoa mai, cầy gấm, mèo gấm, chó sói v.v... Đây là con số ấn tượng, vì các loài được thống kê trong báo cáo đều là những loài có giá trị bảo tồn gen cao, đang được sự quan tâm của các nhà khoa học trong nước và thế giới. Nhưng thật đáng tiếc đây là con số thống kê được dựa vào từ báo cáo có từ năm 1992, có nghĩa đã gần 20 năm trôi qua, liệu các con vật đó có còn tồn tại, hay chúng chỉ xuất hiện trên giấy mà chẳng ai nhìn thấy thực tế trong cuộc sống, hoặc biết đâu lại xuất hiện những loài mới? Để trả lời câu hỏi này, một lãnh đạo của Khu bảo tồn cho biết: "Chúng tôi không có kinh phí để làm việc này", mà thực sự từ khi thành lập đến nay, KBTTNĐS-KT cũng chưa có cuộc điều tra khảo sát tỉ mỉ nào. Một con số khả quan tuy cũng chưa phải là mới, đó là cuộc khảo sát sơ bộ của Đoàn cán bộ nghiên cứu khoa học thuộc Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (Viện khoa học và công nghệ Việt Nam) phối hợp cùng các chuyên gia Nga, thuộc Viện động vật Saint Peterburg năm 2007 đã phát hiện nhiều loài động vật quý hiếm còn tồn tại trong khu bảo tồn là cá cóc bụng hoa (có trong sách đỏ Việt Nam), cá sấu cạn và 43 loài ếch nhái v.v... Còn theo ông Bàn Sinh Hương, Bí thư Đảng ủy xã Kỳ Thượng, người nhiều năm gắn bó với công tác bảo vệ Khu bảo tồn, thì: "Trong Khu bảo tồn vẫn còn dấu vết báo hiệu sự tồn tại của các loài gấu, cày hương, nai, hoẵng v.v... nhưng chỉ còn rất ít". Trong buổi Hội thảo đánh giá nhu cầu bảo tồn của KBTTNĐS-KT diễn ra vào tháng 4-2009, tại huyện Hoành Bồ mà chúng tôi được mời tham dự, ông Keith Willams, người Anh, là chuyên gia lập kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và sinh thái của Nhóm hỗ trợ kỹ thuật vùng miền Bắc, cho biết: "KBTTNĐS- KT chỉ là con số ít khu bảo tồn thiên nhiên còn giữ nhiều nguồn gen quý mà chưa được đầu tư quy mô". Còn ông Aron Mark Berger, một chuyên gia xã hội học người Mỹ, hiện cũng đang làm việc cùng nhóm hỗ trợ vùng miền Bắc, lại đưa ra một nhận định hài hước rất Mỹ, rằng: "Việc đầu tư vào KBTTNĐS-KT nếu không làm ngay thì sau này cũng chẳng cần thiết nữa vì còn gì mà mất". Thậm chí ngay cả ranh giới giữa khu bảo tồn và khu vực dân cư, cũng chỉ được hiểu một cách đại khái, như "chỗ này là khu dân cư, chỗ kia là khu bảo tồn", ranh giới thường biểu thị là dòng suối, cái cây, thậm chí là hòn đá. Còn về việc cắm cột mốc thì vẫn phải chờ kinh phí. Năm 2008, Khu bảo tồn đã bảo vệ xong đề tài nghiên cứu trồng 6 ha cây dổi lụa (loài cây được ghi trong sách đỏ Việt Nam). Năm 2009, KBTTNĐS-KT đã nhận được 800 triệu đồng từ nguồn hỗ trợ của Nhóm hỗ trợ kỹ thuật vùng miền Bắc, đây là số tiền hỗ trợ lớn duy nhất có được từ khi Khu bảo tồn được thành lập. Sau đó là những hoạt động liên tiếp đã diễn ra ở Khu bảo tồn vào năm 2010, đó là trồng mới 320 ha thông mã vĩ ở các xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng, đã đem lại công ăn việc làm cho hàng trăm hộ dân vùng lõi. Người dân khi có công ăn việc làm từ rừng thì việc tuyên truyền họ bảo vệ rừng sẽ dễ dàng hơn. Ông Ngô Quang Tuân, Giám đốc KBTTNĐS-KT, cho biết: "Đó là một thành công mà chúng tôi phải trải qua bao nhiêu trăn trở mới có được. Khi quyền lợi của người dân được gắn với rừng thì họ sẽ là những người gác rừng hiệu quả nhất". Một thành công nữa của KBTTNĐS-KT là từ cuộc tổng điều tra đánh giá các loài thực vật thân gỗ trong Khu bảo tồn vào tháng 7-2010 vừa qua, đã đưa ra một con số khá khả quan. Đó là các cán bộ Khu bảo tồn đã tìm thấy 546 loài cây rừng có thân gỗ. Đây là dấu hiệu tốt về tiềm năng của KBTTNĐS-KT vì nó cho thấy được các loài cây thân gỗ ở KBTTNĐS-KT chỉ kém Vườn quốc gia Ba Bể - Bắc Kạn (có 602 loài) một chút, nhưng lại hơn Khu bảo tồn Tây Yên Tử - Khe Rỗ, Bắc Giang (486 loài), và khu bảo vệ cảnh quan Đền Hùng - Phú Thọ (458 loài). Một điều nữa là KBTTNĐS-KT còn là đầu nguồn của 2 con sông lớn là sông Ba Chẽ và sông Man, hầu hết các con suối trong rừng đều có nước chảy quanh năm, nếu như việc bảo vệ rừng không được chú trọng, thì mưa lũ ở đây rất lớn, sẽ có nhiều tác hại khôn lường...
Trồng cây thông mã vĩ ở khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng.