Trái với những gì tôi tưởng tượng về em sau cú sốc doping, búp bê vàng Ngân Thương trong khoảnh khắc mà tôi bắt gặp gương mặt không bóng dáng của nỗi buồn, hay những thất vọng quá sức chịu đựng.
Mười chín tuổi so với ngoài đời Thương vẫn chỉ là một bé gái 15, ngơ ngác và trong veo trước cuộc sống. Mười chín tuổi, em quyết định “về hưu”, giã từ sự nghiệp vận động viên (VĐV), nói điều đó ra nghe có gì đó thật vô lý, buồn cười, nhưng thực tế nghiệt ngã như vậy vẫn có thể xảy ra với đời bất cứ một vận động viên nào trong sự nghiệp thể thao cũng đầy may rủi và bất trắc này.
Vậy là từ nay cô gái vàng, búp bê Ngân Thương sẽ bước ra khỏi môi trường “kỷ luật sắt”, một môi trường sống mà chỉ có ăn thể dục, ngủ thể dục, sáng trưa chiều thể dục, gần như cách ly với thế giới bên ngoài của những VĐV đặc thù của bộ môn thể dục dụng cụ (TDDC) để trở về với đời sống thường nhật.
Đời VĐV thường rất ngắn, nhưng VĐV TDDC lại còn ngắn hơn bất cứ mọi VĐV khác, nhiều người “về hưu” ở độ tuổi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa đẹp nhất của đời người: 17-18-19 tuổi. Trong khi đó tập luyện với TDDC, một VĐV muốn thành danh phải mất từ 10-15 năm khổ luyện đổ mồ hôi, sôi nước mắt, thậm chí cả máu trên sàn tập, chỉ để toả sáng trong vài ba khoảnh khắc ngắn ngủi.
Mang một tâm thế xót xa, tôi đến gặp em. Nhà của cô bé Ngân Thương ở gần sân vận động Quần Ngựa, trong một hẻm nhỏ hun hút của phố Văn Cao. Ngân có một gia đình bình thường như bao gia đình công nhân khác ở Hà Nội, đồng lương công nhân muôn đời eo hẹp với cuộc sống tằn tiện của bố mẹ, chắt chiu nuôi bà nội và hai chị em ăn học.
Bà nội Ngân Thương cũng rất hoàn cảnh, chồng hy sinh, bà ở vậy thờ chồng, nuôi lớn khôn một người con trai duy nhất là bố của Ngân Thương. Sáng thứ bảy, Ngân Thương vừa ở Trường Đại học TDTT Từ Sơn Bắc Ninh về nghỉ cuối tuần.
Cú ngã xe máy do không may xe bị nổ lốp trong lúc đang chạy đã khiến cô bé Ngân Thương bị tai nạn. Nhưng thật may, vốn là một VĐV TDDC tiêu biểu của Đông Nam Á, em đã vượt qua cú ngã xe một cách an toàn. Gặp tôi, em còn đi cà nhắc một chút, miệng cười tươi rói, khoe hàm răng khểnh duyên và ngộ nghĩnh: “Chị ơi, may mà em là VĐV chứ nếu không thì chắc cũng bị thương ghê lắm”.
Nói rồi cô bé cười hì hì, trông em chỉ mới là cô bé tuổi 15 thì đúng hơn là một thiếu nữ 19 tuổi. Hệ quả của việc tách rời gia đình, tách rời cuộc sống thường nhật từ bé, và được “nuôi dưỡng công nghiệp”, công nghệ như những chú “gà gô” chuyên “luyện võ TDDC” nên ngoài đời Ngân Thương lúc này vẫn chỉ là cô bé 15 tuổi trong hình hài thiếu nữ 19 tuổi.
Em say sưa kể cho tôi nghe hơn 10 năm luyện võ ở “trại tập trung” Nam Ninh, Trung Quốc. Cùng với 3 VĐV nhí khác được tuyển lựa từ hàng trăm hàng ngàn đứa trẻ khác, năm 1996, Ngân Thương rời xa bố mẹ và gia đình sang Trung Quốc từ năm lên 7 tuổi. Cuộc sống với chế độ tập luyện hà khắc, kỷ luật sắt của một đứa bé mới 7 tuổi cho thấy em và gia đình em phải hy sinh và vượt qua những hy sinh đó lớn đến mức nào.
Nhớ lại suốt 11 năm sống và luyện tập TDDC ở Trung Quốc, Ngân Thương không thể nào quên được trường kỳ những ngày tháng luyện tập gian khổ, sống trong nỗi nhớ nhà, thiếu vắng gia đình. Môn thể thao TDDC đòi hỏi các VĐV phải tập luyện một ngày 8 tiếng liên tục.
Ngày nào cũng đều đặn như ngày nào, 6h sáng dậy ăn sáng và tập đến 11h. Nghỉ ăn trưa, chiều 2h tập đến 5h, nghỉ ăn tối. Buổi tối đi học văn hoá. Ngày nắng nóng cũng như ngày tuyết lạnh rơi, ngày khoẻ cũng như ngày ốm, nếu có bị sốt cao 38-39 độ cũng phải dậy ra sân tập, quá trình tập có bị chấn thương vẫn phải băng bó chấn thương lại để tiếp tục tập luyện.
Sự hà khắc trong chế độ luyện tập của bộ môn TDDC đã khiến cho cô bé Ngân Thương mới 19 tuổi nhưng đã rất nhiều lần bị chấn thương nặng, để lại di chứng cho cuộc sống hiện tại. Kể về những chấn thương, cô bé Ngân Thương chìa cổ tay phải bị trệch khớp, mắt cá tay lồi hẳn ra một bên trông rất kỳ dị.
Với chấn thương này, em vẫn phải băng lại để luyện tập. Để chuẩn bị cho những giải đấu, em được các bác sỹ cho tiêm một loại thuốc để làm cho mất cảm giác đau đớn kéo dài khoảng 3-4 tháng để phục vụ tập luyện và thi đấu.
Với chấn thương này, em đã phải sang Trung Quốc tiêm tới 4 lần. Đến bây giờ, hết thuốc rồi, không thi đấu nữa, nên cổ tay em rất đau. Các tế bào ở cánh tay phải bị ăn mòn do thuốc, nên teo lại, không phát triển và sản sinh được nữa, khiến cho tay phải của em bé hơn hẳn so với tay trái. Bây giờ luyện tập vẫn còn đau lắm.
Không buồn phiền và suy sụp như tôi nghĩ. Trái lại, gương mặt bụ bẫm của em tươi như hoa. Em luôn cười, nụ cười bừng sáng trên gương mặt nhí nhảnh. Mười chín tuổi, nếu một cô gái ở ngoài đời thường, sống một cuộc sống bình thường như bao cô gái khác, hẳn sẽ từng trải hơn, già dặn hơn và chắc chắn khôn ngoan hơn Ngân Thương nhiều.
Ngân Thương vẫn là chú gà bông bé bỏng, chú như vừa bước ra khỏi ổ trứng công nghiệp, mở to mắt và háo hức đón nhận cuộc đời. Cô giáo của Ngân Thương, cô Đỗ Thuỳ Giang, từ giã sự nghiệp VĐV TDDC từ năm 17 tuổi, có mặt bên cạnh 3 cô bé con trong suốt 12 năm trời từ ngày các em mới tròn 7 tuổi đã tâm sự.
Hồi mới đầu về nước, tội nghiệp các em, không em nào biết đường phố Hà Nội vì xa quê hương từ nhỏ. Đi đâu cũng lơ ngơ, ngô nghê, nhất là đi chợ mua hàng hoá, chỉ sợ các em bị lừa. Có lẽ tại cuộc sống cách ly với gia đình, cách ly với bố mẹ, môi trường sống xung quanh, và xa cách quê hương Tổ quốc đã làm cho em trở nên non nớt và ngơ ngác khi trở về hoà nhập với cộng đồng.
19 tuổi, Ngân Thương chưa đủ trải nghiệm và hiểu đời để thấm thía đâu là nỗi buồn mà mình vừa nếm trải. Chỉ vì sự thiếu hiểu biết, cô bé Ngân Thương đã vô tình mang lại cho mình một kết thúc buồn. Nói về sự cố đau buồn này, Ngân Thương kể lại:
“Thể trạng của em rất dễ tăng cân, khi còn 10 ngày nữa là bay sáng Olympic Bắc Kinh, em thấy mình hơi tăng cân nên đã tự ý mua thuốc lợi tiểu để mong giảm béo. Em không hề biết trong loại thuốc này có chất thuộc danh mục cấm của Uỷ ban Olympic Quốc tế (IOC)”.
Sau khi sự việc xảy ra, ông Trưởng Tiểu ban y tế của OIC còn phát biểu trước các phương tiện thông tin đại chúng rằng: “Tôi cho rằng trường hợp của Thương có lẽ là hậu quả của việc VĐV bị thiếu thông tin, không có đủ kiến thức để biết thuốc gì có thể sử dụng và thuốc gì cần phải tránh tuyệt đối”.
Sau tai nạn doping không đáng có do sự thiếu hiểu biết của Thương, án kỷ luật cấm thi đấu các giải quốc tế 2 năm và cấm thi đấu các giải trong nước 1 năm đã gần như đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp VĐV TDDC của em.
Án phạt như một kết thúc buồn cho tài năng đang độ chín của Ngân Thương. Môn TDDC với những đặc thù riêng đòi hỏi vô cùng khắt khe về tuổi đời và độ bền, độ mềm dẻo. Nếu phải cấm thi đấu 2 năm, có nghĩa là Ngân Thương ít có cơ hội để lại thăng hoa, toả sáng. VĐV tập luyện là để được thi đấu, nếu không có một động cơ hấp dẫn phía trước thì VĐV không còn hứng thú và động lực để vượt khó, vượt khổ, chịu đựng đau đớn về thể xác để khổ luyện.
Hơn nữa, với bộ môn TDDC, không tập luyện thường xuyên, không có dụng cụ tập luyện, dù chỉ nghỉ một ngày thôi các cơ đã bị xơ cứng, không thể nào mềm dẻo được. Trước tình thế tiến thoái lưỡng nan như vậy, Ngân Thương đã quyết định “về hưu”, coi như đó là một quyết định để em tìm lại sự thanh thản bình an trong cuộc sống của một VĐV chịu quá nhiều áp lực.
Em trở nên hồn nhiên, vui tươi và yêu đời như thể mọi chuyện buộc phải xảy ra như vậy, không có gì nhiều để chia sẻ. Có vẻ như, quyết định của em lúc này đã giúp em trút được bớt gánh nặng áp lực. Áp lực lớn nhất là tập luyện, thi đấu với cái đích là những tấm huân chương phía trước.
Mặc cho những chấn thương nặng gây đau đớn, cuộc chạy đua của những VĐV không có chỗ cho sự chùn bước. Phải đi, phải đến đích và trên đường đua ấy, kẻ nào gục ngã, kẻ ấy sẽ thất bại và mãi mãi không tới đích vinh quang. Ngân Thương đã chạy nước rút trên đường đua ấy hơn 10 năm nay rồi, bước chân của em dường như đã mỏi mệt, cùng với những chấn thương nặng, em gần như buông xuôi.
Vậy là 13 năm đến với môn TDDC, đeo đuổi cùng thể thao, ăn ngủ sống chết cùng thể thao, cô bé Ngân Thương đã thực sự toả sáng trên sàn đấu trong nước và quốc tế, mang lại vinh quang cho bản thân em, gia đình và vinh quang cho nền thể thao nước nhà khi mang về bộ huy chương 54 chiếc, trong đó có 36 huy chương vàng với 5 huy chương vàng liên tiếp có từ Sea Games 22, 23, và 24.
Mười chín tuổi, em giành được tấm Huân chương Lao động hạng ba, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huy chương Vì sự nghiệp TDTT của UBTDTT, với hàng loạt thành tích: Gương mặt trẻ tiêu biểu Việt Nam 2004, 4 năm là “VĐV tiêu biểu toàn quốc”, 2 năm liền là “VĐV suất sắc Hà Nội”, và là VĐV duy nhất của Đông Nam Á tham dự Olympic Bắc Kinh năm 2008.
Bên cạnh những giá trị tinh thần lớn lao ấy là giá trị vật chất mà cô bé vàng Ngân Thương thu hái được qua các mùa giải, ngoài những tiêu pha mua sắm sửa cho cá nhân chỉ còn lại vài trăm triệu đồng do bàn tay thu vén của bố mẹ em.
Với án kỷ luât, từ một VĐV đỉnh cao, Ngân Thương trở về cuộc sống của mình với hai bàn tay trắng, không có lương, không có một tương lai hứa hẹn ngoài việc em được vào thẳng Trường Đại học TDTT và bắt đầu lại từ đầu, từ con số không tròn trĩnh. Lại một chặng đường mới nỗ lực với bản thân để tạo dựng cho mình một cuộc sống ổn định.
Thế mới biết thể thao đầy may rủi và cơ cực. Thành công đấy nhưng cũng thất bại đấy, vinh quang đấy nhưng cũng đắng cay đấy. Để có được những vinh quang kia, cô bé Ngân Thương đã phải trả giá cho một cuộc sống không có tuổi thơ, không có mái trường thực thụ, và vòng tay yêu thương của bố mẹ, gia đình, nhà trường bình thường như biết bao đứa trẻ khác.
Và giờ đây, nếu em không theo nghiệp thể thao, em không thể làm được việc gì khác tốt hơn khi mà hành trang từ trước đến nay với em chỉ có môn TDDC. Việc học văn hoá đối với những vận động viên có một chế độ tập luyện tập trung như em chỉ là trình độ bổ túc.
Một năm, các thầy cô giáo bay qua mấy tháng để giảng dạy văn hoá buổi tối cho các em, còn lại toàn bộ thời gian để dành cho thể thao, vì vậy bây giờ các em làm sao đủ học lực, trình độ để thi vào các ngành nghề khác ngoài thể thao. Giờ đây, trả giá cho một tuổi thơ đầy áp lực thi đấu, đua tranh những ngôi vị và thành tích cao, em trở về với đời thường và bắt đầu học lại từ đầu, kể cả tình yêu thương.
Hồi đầu mới về, Thương không thể nào quen với việc bố mẹ có thể ôm em vào lòng, vuốt tóc em hay có những cử chỉ ân cần đối với em. Hồi đầu, bố mẹ em cũng phát khóc vì con gái bé bỏng dứt ruột đẻ ra, sao như người xa lạ, không gần gũi và không tình cảm với bố mẹ. Thiếu thốn tình cảm gia đình, tổ quốc, đã gần như biến em thành một con người khác, cho em một thói quen độc lâp, tự thu xếp mọi thứ trong cuộc sống của mình. Bởi vậy, giờ đây, nếu phải học lại yêu thương từ đầu, âu cũng là lẽ tự nhiên.