Ngày ông Công, ông Táo của người Việt ở Nga

Nhìn con cá chép “cụ” lờ đờ trong chậu nước sắp sửa đóng băng để trước “công” (côngtơnơ bán hàng) ở chợ Á-Âu (Mátxcơva), chị Nguyễn Thị Hạt lầm bầm khấn vái: “Ông Táo về giời bẩm hộ Ngọc Hoàng rằng chúng con đang gặp hạn…”. Đến gần trưa chị vẫn chưa mở hàng.

Cá chép Tây

Nhiệt độ tụt xuống 20 độ âm. Chị Phương lật đật dọn hàng vào kho. Chị ở chung một căn hộ với chị  Hạt. Mới 12 giờ trưa mà dãy “Palat đỏ” ở chợ ACT đã khá vắng, nhiều quầy cửa đóng then cài. Về sớm, vì lạnh, vì chợ đang “mùa ế”.

Nhưng hôm nay chị Phương có lý do khác – 23 tháng Chạp ta rồi. Phải làm mâm cơm cúng ông Táo chứ. Sang Nga 15 năm, từ hồi còn là một cô gái mơn mởn nay đã thành thiếu phụ, nhưng chị Phương vẫn giữ truyền thống của gia đình – “gì thì gì” với ông Táo cũng phải chu đáo, buôn bán quanh năm có mỗi một ngày “báo cáo với giời”.

Bỏ qua dãy hàng thịt, cũng toàn người Việt bán cho người Việt, chị Phương đến quầy cá. Hôm nay không có cá ướp lạnh. Không có bất kỳ loại cá nào khác. Chỉ rặt cá chép tươi. Anh Duân, quê Thanh Hóa, đang tíu tít chỉ đạo những người làm công, cũng là anh em trong nhà cả. Nào là cân cá, thu tiền. Nào là vớt lớp đá mỏng nổi váng trên mặt. Nào là tiếp nước ấm vào thùng để cá khỏi chết cóng.

Ngày ông Công, ông Táo của người Việt ở Nga ảnh 1

Cá chép cúng ông Công ông Táo của người Việt tại Nga.

2 tuần trước anh Duân đã chuẩn bị cho ngày trọng đại này. Nhưng đúng dịp ông Táo về giời thì trời lại lạnh quá thể. Giữ cho cá tươi khỏi thành cá “ướp đá tự nhiên” đã khó. Lại còn phải “khởi động” cho chúng thoát khỏi trạng thái lờ đờ ngái ngủ. Nếu không thì ai mua để cúng?

Những con cá chép Nga béo tròn, to đùng. “Mi nhon” nhất cũng vài ký, có những con nặng cỡ 4 cân. Không kiếm đâu ra những con cá chép vàng cỡ vài ba lạng như ở Việt Nam. Người Việt, người Hoa ở chợ Vòm khá đông, nhưng chưa đủ để ra đời dịch vụ nuôi cá chép làm “máy bay” cho ông Táo.

Cả năm có một ngày, lời lãi lại chẳng là bao. Cá chép mà anh Duân bán hôm nay là cá thịt, béo và chậm chạp. Rất hiệu quả về kinh tế. Đúng ngày 23 tháng Chạp mà giá cũng chỉ 90 rúp/cân, tương đương 50.000 đồng Việt.

Nên nhớ giá cả ở Mátxcơva nhìn chung cao gấp rưỡi, có khi gấp đôi ở Hà Nội. Người Nga chở xe téc đến bán cho người Việt, người Hoa với giá rẻ hơn – 75 rúp, thấp hơn nhiều so với 1 cân bắp cải mềm.

Lạ là ít người Việt mua. Anh Duân giải thích: “Người Việt thích mua của người Việt. Tâm lý đã đành. Còn là vì tôi bán đủ cân đủ lạng và không… kèm nước lã”.

Cộng đồng Việt Nam có mặt ở Mátxcơva đã khá lâu, đủ để một số người Nga có đầu óc nhanh nhạy biết phải làm gì để hai bên “gặp nhau”. Tết Nguyên Đán họ chở gà sống và là gà trống hẳn hoi cho người Việt làm đồ cúng và cũng biết rao lơ lớ: “Gà ta”.

“Ta” ở đây có nghĩa là gà ở nông thôn, không nuôi theo phương pháp công nghiệp. Nếu gà làm lông rồi, thì họ cũng cam đoan là “con trống”, để nguyên đầu và chân. Gà trống thì giá cả dĩ nhiên cũng “hoành tráng” hơn đám gà mái. Gà cúng rõ ràng “quý” hơn gà thịt. Năm Dậu, họ biết hỏi trước là có “tránh” (kiêng) cúng gà, năm Hợi có trừ thịt lợn…

Sau khi cúng xong, chị Phương cũng muốn thả cá xuống ao, xuống sông. Có thế ông Táo mới bay lên trời được. Mẹ chị vẫn sai chị làm thế. Nhưng bên này đang kỳ “cao điểm” của mùa đông, mặt nước đóng băng, biết thả cá vào đâu? Nếu lặn lội tìm đến chiếc hồ nào đó, đục lỗ băng để thả thì những con cá vốn đã lù đù cũng không sống quá mươi phút. Thôi đành… rán lên vậy. 

Báo với Ngọc Hoàng…

Người Việt ở Nga đang trong thời gian khó, những tháng cuối năm Tuất. Mùa hè, đầu thu khá yên ả, gợi nhiều hy vọng. Rồi những biến cố dồn dập. Chị Phương biết thu vén, nhiều năm qua trở thành một chủ “palat” (quầy bán hàng lớn) có vốn liếng kha khá. Ngoài khoản gửi về cho gia đình, đầu tư vào hàng, riêng “palat” của chị có giá sang nhượng vào thời kỳ đỉnh cũng lên đến vài trăm nghìn đôla.

Nhưng giờ đây “palat” thôi là đối tượng chuyển nhượng, một khoản tiền quá lớn tuột khỏi tay. Đầu mối ở các địa phương tạm thời không về nhập hàng nữa. Doanh thu giảm hẳn. Thời gian này chị Phương không nghĩ đến chuyện tích lũy, chỉ mong lỗ ít. Tiền thuế, phí chợ, thuê kho, mướn bốc vác và chở hàng, thuê nhà, ăn uống, đi lại… mỗi tháng một chủ “palat” như chị Phương chi không dưới 4.000 đôla. Ai phải thuê quầy còn thêm khoản tiền “kênh” một vài nghìn “đô”.

Anh Duân cũng là người kinh doanh nhạy bén. Quầy cá tươi của anh có thời kỳ mỗi ngày tiêu thụ không dưới 300 cân. Nhưng trong tháng qua người Việt và người Hoa ở chợ về nước nhiều, mà đó là khách hàng chính của anh. Sau Tết Nguyên Đán họ có quay lại hay không, chưa ai dám nói trước. Nhưng anh Duân hiện tại chỉ có thể bán không quá 100 cân cá mỗi ngày. Lo tiền ăn, tiền ở và tiền lương cho 4 – 5 người giúp việc quả là một gánh nặng.

Trong ngày 23 tháng Chạp chúng tôi còn gặp những người Việt ở tầng nấc kém hơn chị Phương, anh Duân. Anh Lê Ngọc Mùi, quê Hà Tĩnh, chỉ thuê được chiếc bàn con con ở lối cổng sau của chợ Vòm.

Ngày ông Công, ông Táo của người Việt ở Nga ảnh 2

Bánh chưng bày bán ngày ông Công, ông Táo tại chợ Việt ở Mátcơ va (Nga).

Chiều tà, người rời chợ nườm nượp nhưng ít ai ngó tới những hộp xôi gấc đỗ xanh và chồng bánh chưng. Chúng nhanh chóng cứng ngắc vì trời quá lạnh. Hàng “độc” phục vụ việc cúng ông Táo đấy.

Nhưng người Việt, người Hoa đang tính tới chuyện “thắt lưng”. Anh Mùi bán được hơn chục hộp xôi và dăm chiếc bánh chưng, một ít hoa quả. Hộp xôi giá 100 rúp (khoảng 60.000 đồng). Bánh chưng giá 150 rúp. Hôm nay anh dư được tiền thuế, tiền ăn và ở. Anh thuê chung một giường với người bạn.

Giá cả ở Mátxcơva, nhất là khu chợ, khiến người ta không tính phòng ở bằng mét vuông mà là… xăngtimét vuông. Một phòng con con chứa 12 người, tức 3 chiếc giường tầng. Ai “xông xênh” thuê hẳn một giường để tối về ngả lưng. Cũng chẳng cần nhiều vì 14 tiếng họ có mặt ở chợ rồi.

Ngày ông Công, ông Táo của người Việt ở Nga ảnh 3

Xôi bán tại chợ Việt ngày ông Công, ông Táo.

Chị Hoa, quê Hà Tây, chuyên gói bánh chưng, đồ xôi để giao cho những người như anh Mùi. Không hết, chị đẩy chiếc xe nhỏ đi bán rong. Ngày cúng ông Táo chị đồ xôi, gói bánh chưng, còn ngày thường chị làm bánh rán, bán nước chè nóng. Nếp giá chỉ 40 rúp/cân, đỗ xanh 50 rúp/cân (hàng của các nước SNG), nhưng lá dong và lạt tính đổ đồng những 400 rúp/cân, chở bằng máy bay từ Việt Nam sang. Chị gói bánh thật khéo, chỉ cần một chiếc lá to, vậy mới có lời. Không tìm được người “thuê chung giường”, chị Hoa đành phải nộp “tiền nhà” gấp đôi những người khác…

Với những cảnh đời đó, người từ trong nước mới sang cứ day dứt không thôi. Nhưng bản thân chị Hạt, chị Phương, anh Duân, anh Mùi, chị Hoa không quá bi lụy. Chả biết họ đã nhờ cậy ông Táo bẩm những gì với Ngọc Hoàng ? Cầu mong sao cho một năm Hợi khấm khá, yên lành hơn với cộng đông người Việt xa xứ tần tảo nơi đây.

Cùng chuyên mục