Ngày xuân nhớ bài thơ “Nguyên Tiêu” của Bác

Bài thơ của Bác quả là mẫu mực của một bài thơ Đường, không chỉ là về mặt hình thức, niêm luật v.v... Nó là một bức tranh sinh động được vẽ bởi chỉ vài ba nét bút chấm phá.

Trong chúng ta, không mấy ai là không thuộc, dù ít dù nhiều, một số bài thơ Đường của các nhà nho xưa, như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát v.v... Đọc những bài thơ này, điều ta cảm nhận đầu tiên là sự cô đúc đến mức tối đa của ngôn từ. Thơ Đường là vậy! Cả bài thơ giống như một bức tranh được vẽ chỉ với vài ba nét bút, vừa tinh tế, vừa phóng khoáng... Hết sức chặt chẽ về bố cục, nghiêm ngặt về hình thức thể hiện, song nội dung lại phải thật sâu sắc, thâm trầm, vượt ra ngoài cái sự hạn hẹp nghiệt ngã của câu chữ; trong một bài thơ Đường, tác giả không bao giờ nói tuột hết ý mình, mà luôn để một khoảng, như là cho người đọc cùng tham gia với nhà thơ trong việc thưởng thức thơ... Tôi đồ rằng cái mà mọi người thường đòi hỏi thơ phải có, là ''ý tại ngôn ngoại'', chắc xuất phát từ thơ Đường(?). Và cũng như vậy, những khái niệm như ''Thi trung hữu hoạ'', ''Thi trung hữu nhạc'' v.v... là do những bài thơ Đường gợi mở ra chăng(?). Hoặc cứ cho là không phải thế mà thơ, dù thể loại gì, thơ cổ hay thơ mới, thơ có vần hay không có vần, đều cần có điều đó, thì tôi vẫn tin, với thơ Đường, những yếu tố nói trên là đặc trưng rõ nhất, chúng hiện hữu trong thơ Đường rõ nhất...

Nói đến điều này, lại nhớ bài thơ Nguyên tiêu của Bác viết cách đây tròn 60 năm, xuân Mậu Tý 1948:

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên

Yên ba thâm xứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

Bài thơ của Bác quả là mẫu mực của một bài thơ Đường, không chỉ là về mặt hình thức, niêm luật v.v... Nó là một bức tranh sinh động được vẽ bởi chỉ vài ba nét bút chấm phá. Đọc bài thơ, ta hình dung rất rõ trước mắt mình cảnh con thuyền trôi trên dòng sông lai láng ánh trăng giữa không gian tĩnh lặng của núi rừng Việt Bắc...

Chúng ta đều biết xuân Mậu Tý 1948, sau chiến dịch Thu - Đông, với chiến thắng sông Lô vang dội (10-1947), cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta đã bước sang một giai đoạn mới. Và lúc này đây, vào đêm rằm tháng giêng, đêm trăng sáng đầu tiên, cũng là đêm trăng sáng nhất trong năm, Bác cùng Trung ương ngồi bàn việc quân; không phải trong một căn phòng kín với những người lính gác cẩn mật bên ngoài; mà trên một dòng sông xuân, trong một đêm trăng xuân, ở “yên ba thâm xứ”... Vẫn đảm bảo sự bí mật, kín đáo, nhưng, cũng thật đẹp, thật thơ mộng. Cứ thử hình dung những ai sống vào thời điểm đầu năm 1948 ấy, nếu đọc bài thơ hẳn sẽ cảm thấy lạc quan, tin tưởng hơn vào sự tất thắng; bởi sự ung dung tự tại của Bác, vị Tổng Tư lệnh của dân tộc, linh hồn của cuộc kháng chiến. Và còn bởi cả bài thơ toát lên một sức sống mùa xuân tràn trề... Đây chính là “cái thần” của bài thơ!

Tôi đã đọc đâu đó nói rằng khi làm xong bài thơ, Bác bảo nhà thơ Xuân Thuỷ: ''- Trong bài thơ của Bác có nhắc đến tên chú. Vậy chú dịch đi cho mọi người cùng nghe!''. Và bản dịch của nhà thơ Xuân Thuỷ, như chúng ta đều biết, đã tập trung thể hiện “cái thần” này một cách khá thành công:

''Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn bầu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền''

Chỉ tiếc vì từ thơ Đường luật dịch ra thơ lục bát nên bản dịch đã không thể bám sát được theo cách thể hiện hình ảnh, ngôn từ như nguyên tác; thậm chí có phần hơi thiếu chính xác. Trong nguyên tác, Bác viết: “Yên ba thâm xứ đàm quân sự” mà dịch là “Giữa dòng bàn bạc việc quân” thì gượng quá! Hoặc “nguyệt mãn thuyền” mà dịch “trăng ngân đầy thuyền” thì đã phần nào làm khác đi nghĩa gốc vốn là hình ảnh rất đẹp và chứa nhiều hàm ý mang tính ẩn dụ: ''con thuyền chở đầy trăng''; cũng như vậy, câu thơ ''Sông xuân nước lẫn bầu trời thêm xuân'' rõ ràng là chỉ còn vẻ đẹp sông nước mùa xuân một cách thuần tuý, không còn sự khoẻ khoắn, với sức sống mùa xuân mãnh liệt của đất trời (mà cũng là mùa xuân của giang san, đất nước, mùa xuân của kháng chiến, mùa xuân của dân tộc...) như trong câu: ''Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên'' v.v...).

Là nói vậy để thấy bài thơ Nguyên tiêu của Bác nói riêng, thơ Đường nói chung, luôn có một khoảng ẩn chứa sau các câu chữ để người thưởng thức tự tìm hiểu, tự khám phá... Hiểu được đã khó, dịch cho thoát được càng khó hơn. Điều đó không có gì là lạ! Huống chi thơ của Bác vốn không chỉ tả cảnh thiên nhiên mà bao giờ cũng hàm chứa một trí tuệ mẫn tiệp, sáng suốt, anh minh, một tâm hồn rộng lớn, đôn hậu, nhân đạo của thời đại, của dân tộc... Đúng như nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết:

“Con đọc trăm bài trăm ý đẹp

Ngọn đèn toả rạng mái đầu xanh

Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình...”

Cùng chuyên mục