Nghe những người Quảng Ninh kể về kỷ niệm được gặp Bác Hồ

39 năm Bác đã đi xa, song trong ký ức của mỗi chúng ta, hình ảnh của Bác luôn sống mãi. Nhân kỷ niệm 118 năm Ngày sinh của Bác, phóng viên Báo Quảng Ninh đã gặp gỡ và được nghe một số  cán bộ  đã may mắn được gặp Bác, kể về những kỷ niệm đẹp nhất của đời mình...

“Hình ảnh của Bác luôn khích lệ tôi phấn đấu vươn lên”
(Ông Phạm Văn Tàu, khu 4, phường Quang Trung, Uông Bí) 

Nghe những người Quảng Ninh kể về kỷ niệm được gặp Bác Hồ ảnh 1
Ông Tàu thường kể chuyện và đem tấm huy hiệu Bác Hồ được tặng ra khoe với gia đình.

Trò chuyện cùng chúng tôi, ông Phạm Văn Tàu, ở khu 4, phường Quang Trung (Uông Bí) bùi ngùi kể lại: KỷViEtDeVtRiCk niệm lớn nhất cuộc đời tôilà 2 lần được gặp Bác Hồ. Lần thứ nhất, là cuối tháng 10 –1965. Lần ấy tôi là một trong4 người được đại diện cho cả xã đi gặp Bác khi Bác về thăm Thái Bình. Chúng tôi hân hoan chờ Bác từ sáng sớm tại sân vận động. Rồi một ông cụ mặc bộ quần áo ka ki, vai vắt khăn mặt bước đến, vừa đi vừa vẫy tay chào mọi người, miệng luôn tươi cười... Thấy vậy cả đám đông bỗng nhiên im phắc mất mấy giây, rồi oà lên cùng đồng thanh hô “Bác Hồ”, “Bác Hồ”... Rồi Bác nói chuyện với mọi người về phong trào xây dựng những cánh đồng 5 tấn ở Thái Bình để có gạo gửi ra chiến trường, về đời sống của nhân dân... Tôi nhớ nhất đoạn Bác nói: Bác thật vui lòng thấy Thái Bình có tiến bộ nhiều, Bác mong đồng chí và đồng bào Thái Bình đều cố gắng hơn nữa để làm cho Thái Bình trở thành gương mẫu về mọi mặt. Rồi Bác đi ra phía cầu Bo thì dừng lại, bảo: Các chú lãnh đạo phải làm thêm 1 chiếc cầu Bo nữa...

Sau lần được đi đón Bác,chúng tôi đã kể lại lời động viên, dặn dò của Bác cho mọi người dân trong xã nghe. Từ ấy, ai cũng thêmhăng hái thi đua lao động sản xuất. Còn nơi Bác chỉ đạo làm thêm cầu,khoảng 10 năm sau đó, Thái Bình đã xây thêm được chiếc cầu Bo nữa, việc đi lại của nhân dân ngày càng thuận tiện.

Riêng tôi từ lần được đi đón Bác ấy về đã tích cực thi đua tăng gia lao động sản xuất giỏi, và xung phong vào bộ đội khi chưa đủ 18 tuổi. Tại đơn vị đóng quân ở Ba Vì (Hà Tây) tôi may mắn được gặp Bác Hồ lần thứ hai. Còn nhớ, hôm đó vào ngày 7-4-1967. Khoảng 7giờ30, chúng tôi nhìn thấy một ông già mặc bộ quần áo ka ki màu trắng đã bạc màu, đầu đội mũ cát rộng vành, chân đi dép cao su cùng nhiều người khác xuống xe.Tôi sững người lại, rồinói: “A Bác Hồ...Đúng Bác Hồ...”. Mọi người vẫn chưa tin.Vừa lúc đó Bác đi vào giữa sân. Một loáng sau, ai nấy đã đứng vào hàng thẳng tắp. Lần này, Bác cũng nói rất nhiều chuyện, nhưng điều tôi nhớ nhấtlà Bác bảo “Trung ương quyết định thành lập đơn vị các cháu là lực lượng Đặc công gọi tên là 305”.Bác giải thích luôn: Gọi Đặc công nghĩa là các cháu lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, nhưng chiến công của các cháu thì lại to... Nói xong, Bác bắt nhịp cho các chiến sĩ hát bài Kết đoàn, bài hát chưa kết thúc, Bác vào đơn vị thăm CBCS và vào đúng Đội của tôi. Bác đi vòng quanh lán, ra giếng xem, rồi lại vào bếp rồi dặn: Các chú phải khơi thông cống rãnh cho thoát nước để đỡ muỗi. Bác hỏi: Cháu nào làm cấp dưỡng ở đây? Tôi chưa kịp nói gì, Bác vẫy tôi lại gần và nói luôn: Các cháu nhớ cho bộ đội ăn chín, uống sôi đấy (bởi lúc đi quanh lán, Bác nhìn thấy bộ đội uống nước lã). Rồi Bác ngồi trò chuyện cùng CBCS, tôi ngồi cách Bác 3 người, nhưng cũng được Bác hỏi han tình hình gia đình, các chị, các anh của tôi. Sau khoá huấn luyện, tôi đạt loại xuất sắc được thưởng huy hiệu Bác Hồ và đi B2, đóng quân tại KTum (tỉnh Tây Ninh),tôi làm lính trinh sát đặc công. Đến tháng 6-1975tôi bị thương được đưa ra Bắc điều dưỡng rồi chuyển công tác về làm ở Mỏ Vàng Danh (Uông Bí).

Kỷ niệm về Bác luôn đi theo tôi suốt cuộc đời. Hình ảnh tận tuỵ, ân cần và gần gũi cùng những lời nói, việc làm của Bác là nguồn động viên, thúc giục tôivươn lên...

“Sống xứng đáng với những điều Bác dạy”
(Ông Nguyễn Văn Giệng, khu 5, phường Hồng Hà, TP Hạ Long)

Nguyên là lái xe của UBND tỉnh, ông Giệng đã 4 lần được gặp Bác Hồ. Với ông, đó là những kỷ niệm sâu sắc, ấn tượng nhất cả đời. Ông kể: Buổi tối mùa đông năm 1955 khi đó tôi đang là học viên lớp trinh sát biên phòng ở Trường C500 (Hà Đông). Khoảng 19giờ 30’ chúng tôi đã tập trung đông đủ, vừa lúc đó có một người khoác chiếc áo bông cũ bạc màu bước vào. Tôi chưa kịp nhìn thì đã nghe mọi người hô vang Bác Hồ, Bác Hồ!. Bác vẫy tay ra hiệu im lặng, rồi hỏi chúng tôi: Các cháu ăn có no không, mặc có ấm không? Các cháu miền Nam ra miền Bắc học có chịu được rét không. Các cháu miền núi xuống miền xuôi học đã quen sinh hoạt của miền xuôi chưa?... rồi Bác thăm hỏi ân cần anh em học viên, sau đó chia tay chúng tôi. Đó là lần đầu tiên tôi được gặp Bác. Lần thứ hai gặp Bác là đầu năm 1959, khi ấy chúng tôi được trưng dụng ra sân bay Gia Lâm làm hàng rào danh dự để Bác Hồ tiễn Tổng thống nước In-đô-nê-sia sang thăm Việt Nam. Tôiđược bố trí đứng gần cuối phía sát máy bay. Tại đây chứng kiến cảnh Bác Hồ và Tổng thống In-đô-nê-sia ôm nhau chia tay rất lưu luyến. RồiBác đọc 4 câu thơ tặng ông Tổng thống mà đến nay tôi vẫn nhớ như in. “Nhớ nhung trong lúc chia tay/Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo người/Người về Tổ quốc xa xôi/Chúc người thắng lợi chúc người bình an’’. Tôi thấy người khách vô cùng cảm động và quyến luyến mãi, như không muốn rời xa Bác. Tiếp đến khoảng tháng 3-1960, khi Bác ra thăm động viên đồng bào các dân tộc Hải Ninh thi đua sản xuất, lúc đó tôi lái xe cho Công an Hải Ninh. Được phân công lái chiếc xe Zep dẫn đường đưa Bác đi thăm Trường Cờ đỏ, HTX nông nghiệp của người Hoa, thăm trường tiểu học của người Hoa, lò gốm sứ Móng Cái, nhà máy Cơ khí Hữu Nghị... Tại các đơn vị, trường học tôi thấy Bác luôn ân cần thăm hỏi sức khoẻ, động viên mọi người đoàn kết, thi đua khắc phục khó khăn học tập, rèn luyện, thi đua sản xuất giỏi. Sau khi thăm các đơn vị, trường học, Bác bảo các chú dẫn Bác ra thăm cầu Bắc Luân (lúc đó cây cầu này là cầu sắt cũ). Cả đoàn cán bộ đưa Bác đi ra đến giữa cầu, mọi người định dừng lại thì thấy Bác vẫn đi tiếp qua ranh giới sang bên kia cầu của phía Trung Quốc. Ai nấy trong đoàn nhìn nhau lo lắng, nhưng thấy Bác đi mọi người đều rảo bước đi theo Bác. Đến đầu cầu phía Đông Hưng (Trung Quốc), bộ đội biên phòng Trung Quốc thấy đông cán bộ Việt Nam sang, định chạy vào gọi điện báo cho cấp trên, thì một người trong số họ chạy vào phòng trực nhìn ảnh Bác Hồ rồi chạy ra hô: Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác cười và nói với họ bằng tiếng Trung Quốc, Bác bảo các chú không phải báo cấp trên, Bác ra thăm cầu, thấy BĐBP Trung Quốc, Bác thăm các chú. Việt Nam - Trung Quốc hai nước láng giềng, hai dân tộc hãy đoàn kết cùng nhau xây dựng và giữ vững biên cương... Nói xong bác chào các chiễn sĩ BĐBP Trung Quốc và bảo chúng tôi dẫn Bác xuống thăm một nhà trẻ của Trung Quốc ở phía dưới gầm cầu Bắc Luân. Tại đây Bác đã chia kẹo cho các cháu nhỏ tình cảm đầy trìu mến, yêu thương v.v.. Suốtgần 40 năm công tác, 48 tuổi đảng, những hình ảnh, lời dạy bảo, cũng như phong cách giản dị, gần dân, sát dân, chu đáo tận tình, nồng hậu, ấm áp... của Bác luôn in đậm trong tâm trí tôi, dù trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào tôi không bao giờ quên được. Tôi luôn tự răn mình phải sống xứng đáng với những gì Bác và Đảng, Nhà nước đã đem lại cho đất nước.

“Hãy là ngọc châu toả sáng”
(Ông Trịnh Xuân Vĩnh,ông Ngô Quang Lượng, phường Tuần Châu, Hạ Long)

Đó là lời căn dặn, là nguyện ước của Bác Hồ khi Người về thăm đảo Tuần Châu (TP Hạ Long) vào tháng 4-1959 và tháng 11-1962. Thời gian đã trôi xa, nhưng trong câu chuyện với chúng tôi, ông Trịnh Xuân Vĩnh, nguyên cán bộ lâm nghiệp của xã, người vinh dự được 2 lần gặp Bác Hồ vào năm 1959 và 1962 vẫn nhớ như in hình ảnh của Bác. Ông kể: Hôm ấy là ngày 1-4-1959, vào buổi sáng, Bác về Tuần Châu bằng tàu hải quân. Khi tàu cập bến khu xóm Nam, nhưng vì nước cạn, tàu không vào được. Nhìn thấy Bác từ xa, tôi lội nước ra định cõng Bác nhưng Bác xua tay, nói: Bác đi được, chú ra giúp mấy đồng chí đi giầy ngoài kia, sau đó Bác xắn quần tự lội vào bờ... Lần thứ hai Bác về Tuần Châu, vẫn phong cách giản dị, gần gũi như lần đầu. Và lần nào cũng vậy, Người đều ân cần hỏi thăm tình hình đời sống của bà con, đồng thời chỉ ra những thế mạnh khả năng phát triển của xã đảo. Người dặn: Các cô chú phải cố gắng trên từng tấc đất, tấc vàng, phải tăng gia sản xuất, trồng khoai sắn, sản xuất dôi dư lương thực thực phẩm. Rồi Bác động viên mọi người vào tổ đổi công để chung sức, Bác dạy một đôi đũa thì bẻ được, nhưng bó đũa thì khó hơn nhiều. Do vậy, mọi người phải đồng lòng chung sức, đoàn kết với nhau để xây dựng xã đảo ngày càng phát triển. Bác khen Đảo Tuần Châu có một vị thế đẹp hiếm có và tiềm năng du lịch lớn, nhân dân phải cố gắng gìn giữ xây dựng đảo ngày càng phát triển về mọi mặt. Chỉ trong một tiếng đồng hồ ở Tuần Châu, Bác đã để lại trong lòng người dân xã đảo chúng tôi những kỷ niệm khó quên. Đó cũng là động lực để các thế hệ nhân dân đảo Tuần Châu phấn đấu xây dựng đảo ngày càng giầu đẹp.

Còn với ông Ngô Quang Lượng, nguyên Chủ tịch xã Tuần Châu (cũ), câu chuyện gặp Bác vẫn vẹn nguyên như mới diễn ra hôm qua. Ông chậm rãi, xúc động kể cho chúng tôi nghe: Khoảng 8h sáng ngày 13-11-1962, trên khu đồi trọc Cây Đa xuất hiện một chiếc máy bay hạ cánh. Nhân dân đang làm đồng ở dưới thấy lạ rủ nhau lên xem. Và thật bất ngờ, người trên máy bay bước xuống không ai khác, chính là Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Những tiếng reo hò chào đón của nhân dân vang lên khắp trên xã đảo. Bác ân cần hỏi thăm nhân dân rồi cùng đoàn đến thăm khu nhà nghỉ. Bác ngồi dưới hiên ngôi biệt thự số 2 và hỏi ai là Chủ tịch xã? Lúc ấy đồng chí Bí thư xã mới chạy đi tìm tôi. Biết Bác Hồ đến thăm và muốn gặp tôi hỏi về tình hình xã, tôi hồi hộp lắm và có phần mất bình tĩnh, không biết Bác hỏi những gì và tôi có trả lời lưu loát không? Khi tôi đến nơi, Bác vẫn đang ngồi nói chuyện với nhân dân. Tôi thưa Bác, Bác nói: à chú đến rồi, chú ngồi xuống đây nói cho Bác nghe. Rồi Bác hỏi về dân số, về hợp tác xã, làm ăn khá hay kém, những vướng mắc trong làm ăn hợp tác xã là gì?... Nghe tôi báo cáo xong, Bác ngồi giảng dạy cách làm mới, cách khắc phục khâu yếu, kém trong làm ăn hợp tác xã... Bác nhấn mạnh: Phải coi trọng yếu tố con người, phải học hỏi. Bác động viên anh em trong hợp tác xã phải có ý thức tự giác, đoàn kết, góp công, góp sức tạo ra nhiều của cải vật chất, có ý thức giữ gìn của chung, có vậy mới xây dựng được đảo ngày càng phát triển. Rồi bác dặn tiếp, làm lãnh đạo xã như các chú còn phải cố gắng học hỏi hơn nhiều thì cuộc sống nhân dân mới khá lên được... Bác mong lần sau đến, Tuần Châu sẽ đổi khác, đảo đẹp thế này, chúng ta phải gìn giữ, bảo tồn và phát triển. Tuần Châu nhất thiết phải trở thành “Ngọc Châu trong tương lai!’’.

Kể chuyện xong, ông Lượng nói như khẳng định với chúng tôi: Nguyện ước, lời căn dặn cũng như những tình cảm sâu đậm của Bác Hồ dành cho Tuần Châu thực sự có ý nghĩa to lớn. Trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi có khó khăn, mất mát, song ngày nay,Tuần Châu đã thực sự là đảo ngọc như kỳ vọng mà Người đã dành cho Tuần Châu.

Cùng chuyên mục