Nguồn hy vọng cho ngành du lịch Việt Nam

Chất lượng dịch vụ du lịch Việt Nam đang thay đổi, do tác động lan toả từ một dự án huấn luyện nhiều hợp phần, do EU tài trợ.

Khách du lịch tham quan hang động trên vịnh Hạ Long. Ảnh: Phạm Huỳnh

Khách du lịch tham quan hang động trên vịnh Hạ Long.
                     Ảnh: Phạm Huỳnh

Bùi Thị Nhàn, một nữ sinh đang theo học trường cao đẳng Du lịch ở Huế, mỗi khi đi ngang qua các khách sạn Sài Gòn Morin, Hương Giang, hay La Residence, Nhàn lại thầm mong được vào làm ở đó. Ước muốn giản dị của Nhàn có thể trở thành hiện thực khi em tốt nghiệp khoá học đang được một dự án của Liên minh châu Âu tài trợ. Ở một góc độ lớn hơn, dự án này mang lại hy vọng cho cả ngành du lịch Việt Nam.

Làm theo kinh nghiệm

Cho đến gần đây, những người làm trong ngành du lịch được đào tạo theo rất nhiều tiêu chuẩn như của Đông Âu, của bộ Giáo dục và đào tạo, hay của tổng cục Du lịch. “Chúng ta đã từng có quá nhiều tiêu chuẩn, mà thực ra chẳng chuẩn gì”, thầy giáo Đặng Quốc Hoà, hiệu phó trường trung học Nghiệp vụ du lịch và khách sạn ở TP.HCM nhận xét. Mỗi nơi làm du lịch theo kiểu của mình. Hậu quả không khó nhận ra.

Một nghiên cứu của tổ chức TUV Rheinland Vietnam cách đây vài năm cho thấy, một lượng du khách không nhỏ nói rằng họ không trở lại Việt Nam và không giới thiệu người khác đến Việt Nam vì những lý do bao gồm yếu kém trong tổ chức tour, vệ sinh kém, các thoả thuận không rõ ràng, tài xế taxi lừa…

Tìm sự thay đổi

Ông Phạm Vũ Hiệp, quản đốc yến tiệc và hội nghị của khách sạn Rex tại TP.HCM đang nắm trong tay hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch (VTOS), một hệ thống thiết kế trên kinh nghiệm của các nước châu Âu về các tiêu chuẩn và kỹ năng cho 13 ngành nghề du lịch và khách sạn, bao gồm điều hành tour, lễ tân, phục vụ buồng... ở Việt Nam.

Rex là một trong số ít ỏi khách sạn năm sao do người Việt Nam làm chủ. Tuy vậy, cho đến gần đây, theo ông Hiệp, vẫn có khách quốc tế than phiền về chất lượng dịch vụ. “Thỉnh thoảng chúng tôi nhận được thư than phiền, chẳng hạn chăn gấp chưa đúng cách, hay thái độ của người phục vụ còn vấn đề”.

Ông Hiệp đã có cơ hội hoàn thiện lại toàn bộ những khiếm khuyết trong hệ thống của khách sạn khi ông tham dự những khoá tập huấn thuộc một dự án do Liên minh châu Âu tài trợ cách đây ba năm. Dự án trị giá gần 12 triệu euro này gồm nhiều hợp phần, trong đó đáng kể nhất là tiêu chuẩn VTOS. Ông Hiệp giải thích: “Nói một cách đơn giản, trình bày một bàn ăn, rót rượu hay gấp chăn… đều phải có quy tắc của nó. VTOS xác định thế nào là công việc, thế nào là phần việc và giúp chuẩn hoá toàn bộ các quy trình này”. Ông cho biết, sau khi đào tạo lại cho nhiều nhân viên khách sạn những bài học này, số lượng các thư than phiền đã giảm hẳn đi.

Về phần mình thầy giáo Hoà cũng đang triển khai những mô hình rất tiên tiến của dự án vào các chương trình giảng dạy. Ông cho biết, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể đáp ứng nhanh với công việc trong thực tế. “Hệ tiêu chuẩn VTOS chắc chắn giúp Việt Nam cạnh tranh hơn trong khu vực”.

Ông Hiệp và thầy Hoà chỉ là hai trong số gần 2.000 đào tạo viên của dự án. Những người này, sẽ lại đào tạo lại hàng ngàn những đồng nghiệp trong cơ quan, hay trong hệ thống của mình. Ngoài ra, dự án còn giúp xây dựng hàng chục trung tâm thẩm định đào tạo trên cả nước. “Tác động của mô hình này là sự lan toả. Nó đảm bảo tính bền vững”, ông Jozep Van Doorn, đồng giám đốc dự án nhận xét.

Đến nay mới chỉ có 30% trong tổng số khoảng một triệu người trong ngành du lịch là được đào tạo.

Nhưng có điều rõ ràng, những nền tảng mà dự án này xây dựng đang mang lại niềm hy vọng cho ngành du lịch Việt Nam.

Nữ sinh viên Nhàn cũng vậy. Sau gần 16 năm sống ở trại mồ côi tại chùa Đức Sơn, Huế, nay em đã sắp tốt nghiệp trường du lịch mà dự án hỗ trợ. “Điều quan trọng em học được ở đây chính là thái độ phục vụ. Em hy vọng sẽ tìm được công việc tốt sau khi tốt nghiệp”, Nhàn nói.