Nguy cơ tái nghèo vẫn còn cao

Trong 3 năm trở lại đây, Vân Đồn có nhiều nỗ lực trong công tác xoá đói giảm nghèo, với tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm trên 3%. Tuy nhiên, theo đánh giá của các cơ quan chức năng địa phương, công tác xoá đói giảm nghèo của huyện Vân Đồn chưa thật bền vững, nguy cơ tái nghèo vẫn còn cao...

Cán bộ Ngân hàng CSXH huyện Vân Đồn làm thủ tục cho các hộ nghèo ở xã Đài Xuyên vay vốn.

Cán bộ Ngân hàng CSXH huyện Vân Đồn làm thủ tục cho các hộ nghèo ở xã Đài Xuyên vay vốn.

Theo kết quả điều tra, năm 2006, huyện Vân Đồn có 1.699 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 19,06% tổng số hộ trên địa bàn huyện. Bằng các chính sách thực hiện giảm nghèo thiết thực như hỗ trợ cho các hộ nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi, tạo việc làm, dự án dạy nghề cho người lao động, phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã nghèo bãi ngang, ven biển v.v... nhiều hộ nghèo trên địa bàn huyện đã phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo. Đến năm 2008, số hộ nghèo trên địa bàn huyện giảm xuống còn 997 hộ, chiếm tỷ lệ 9,94% so với tổng hộ dân. Thế nhưng theo lãnh đạo chính quyền địa phương, kết quả giảm nghèo này chưa thật bền vững, tỷ lệ tái nghèo hàng năm vẫn cao. Ngoài ra, nhiều hộ gia đình nằm ở mức cận nghèo, chỉ cần tác động của thời giá, thiên tai, bão lũ, dịch bệnh là khả năng rớt xuống dưới ngưỡng nghèo là hoàn toàn có thể xảy ra. Hàng năm, số hộ tái nghèo ở một số xã trong huyện phát sinh tương đối mạnh. Cụ thể như năm 2006, toàn huyện có 300 hộ thoát được nghèo thì lại có đến 80 hộ trở lại diện nghèo vào năm sau; năm 2007, Vân Đồn có 415 hộ thoát nghèo, 139 hộ phát sinh nghèo, tái nghèo và năm 2008, trên địa bàn huyện có tổng số 327 hộ thoát nghèo thì có tới 157 hộ tái nghèo và phát sinh nghèo... Nhiều xã trong huyện có năm số hộ tái nghèo tương đương với số hộ thoát nghèo.

Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên, ngoài những yếu tố tác động khách quan như giá cả, thiên tai, bão lũ, dịch bệnh v.v... còn do việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của nhà nước về giảm nghèo đến các hộ nghèo, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số, còn nhiều hạn chế; một bộ phận dân cư chưa thấu hiểu được đầy đủ về chính sách trợ giúp của nhà nước. Chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã có chuyển biến song hiệu quả chưa cao. Bên cạnh đó, công tác chỉ đạo thực hiện công tác xoá nghèo ở một số xã còn chưa đồng bộ, trong chỉ đạo thiếu đôn đốc, kiểm tra dẫn đến hiệu quả đạt thấp; ngân sách huyện cân đối kinh phí để thực hiện chương trình giảm nghèo còn hạn chế, đội ngũ cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo ở các xã, thị trấn chủ yếu là kiêm nhiệm, bán chuyên trách nên trình độ, năng lực điều hành công việc đạt hiệu quả không cao. Và điều không thể không nói đến là một bộ phận người nghèo thiếu ý chí vươn lên, lười lao động, trông chờ ỷ lại vào chính sách hỗ trợ người nghèo của nhà nước. Thực tế, trong thời gian qua, có không ít hộ dân cư ''không chịu thoát nghèo''. Thậm chí, có những hộ nằm trong danh sách xoá đói giảm nghèo được xã bình chọn là hết nghèo rồi, phải đưa ra khỏi danh sách hộ nghèo nhưng chủ gia đình vẫn tìm mọi cách, viện mọi lý do để được nằm trong diện hộ nghèo. Vì họ luôn có tư tưởng cho rằng, nếu ra khỏi diện hộ nghèo thì không còn được hưởng những chính sách ưu đãi của nhà nước. Đặc biệt trong thời gian gần đây...

Để tránh tình trạng này, bên cạnh việc thực hiện các chính sách giảm nghèo thì việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là người dân các vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn phải được đẩy mạnh. Cùng với đó, cũng cần phải xem lại chủ trương, chính sách hỗ trợ hộ nghèo tại các địa phương hiện nay. Bởi lẽ, bên cạnh mặt tích cực của chủ trương này, nó cũng bộc lộ những điểm hạn chế khiến cho nhiều hộ nghèo có lý do để không muốn... thoát nghèo! Việc đẩy mạnh hỗ trợ hộ nghèo trong công tác sản xuất, đào tạo dạy nghề để tạo việc làm sẽ thay dần kiểu hỗ trợ trực tiếp như cung cấp gạo, dầu hoả... cho các hộ nghèo, tức là nên cho họ cái “cần câu” thay vì “con cá” sẽ tốt hơn rất nhiều.

Cùng chuyên mục