Tiếng hát giữa rừng Pác Bó, Xa khơi, Mùa xuân gọi bạn… một thời làm say lòng quân dân hai miền Nam – Bắc và đến nay vẫn còn được nhiều người mến mộ. Tuy nhiên, ít ai biết rằng gắn với mỗi tác phẩm làm nên tên tuổi người nhạc sĩ tài hoa ấy là những phen lao đao, bầm dập.
Nhà ông nằm sâu trong một con phố nhỏ gần Ngã Tư Sở, Hà Nội. Ở tuổi 72, trông ông còn rất khoẻ, mái tóc bạc trắng vuốt ngược bồng bềnh. Chất giọng miền Trung pha Bắc nhẹ nhàng, ý nhị.
“Tác phẩm của tôi không có chỗ cho phụ nữ”
- Thưa nhạc sĩ, ông bắt đầu con đường âm nhạc như thế nào?
Năm 1953, học xong cấp 3, tôi ra Hà Nội theo học Văn khoa vì hồi đó tôi học văn rất tốt. Dự định của tôi là sẽ thành nhà văn hoặc chí ít là giáo viên dạy văn nhưng vừa ra Hà Nội, tham dự Đại hội Văn công toàn quốc, được nghe Hò kéo pháo của anh Hoàng Vân, nghe những ca khúc, làn điệu dân ca ba miền lôi cuốn, rồi thấy không khí rạo rực, sôi động của đời nghệ sĩ, vậy là một chân trời mới mở ra.
- Quyết định rẽ lối của ông không gặp trắc trở gì sao?
Có chứ, gia đình tôi phản đối rất dữ vì cho rằng sáng tác âm nhạc rất mơ hồ, mông lung, đó không phải là một nghề và quả thật lúc đó tôi cũng không định hình được nghề âm nhạc là nghề gì. Quyết định của tôi có thể nói là hơi bất ngờ nhưng đã say rồi thì mình kiên định lắm.
- Chứ không phải do các cô văn công quá đẹp?
Cả cuộc đời tôi, phụ nữ không hề can dự vào bất cứ một sáng tác nào bởi với tôi, sự nghiệp âm nhạc cực kỳ nghiêm túc.
- Nhưng có một hình bóng kiều nữ thì đâu phải là sáng tác không nghiêm túc?
Mình có yêu ai và viết về họ cũng là điều bình thường, không phải là xấu nhưng thật sự tôi không có phụ nữ nào cả. Những người khác thì gặp nhưng tôi thì không gặp phụ nữ nào cảm động để có tác động, ảnh hưởng lên sáng tác. Đó là điều rất đáng tiếc, mặc dù có những bài hát người ta gắn cho là có hình bóng của chị Tân Nhân, chị Thu Hiền, chị Lê Dung nhưng đó là chuyện buồn cười.
- Vậy trường hợp vợ của nhạc sĩ?
Bà ấy quen tôi khi cùng đi học ở Bình Nhưỡng. Bà ấy đã nghe và hâm mộ tên tuổi tôi nên khi gặp, chúng tôi nhanh chóng quen nhau và cưới nhau.
- Đó là mối tình đầu?
Không phải, hồi trẻ tôi không xấu trai, hát hay đàn giỏi nên nhiều cô theo lắm. Cũng có một vài mối tình nhưng chỉ dừng lại ở cảm mến vậy thôi, bởi thời trai trẻ tôi khổ sở lắm nên phải giữ gìn.
“Xa khơi khiến tôi bầm dập”
- Ông thấy mình thành công và tâm đắc với nhạc phẩm nào?
Tôi đi bằng hai chân, đầu tiên là sáng tác ca khúc, sau đó là soạn nhạc không lời và giao hưởng. Và đã gặt hái được một số thành công, ví dụ như Mùa xuân gọi bạn, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó, Xa khơi… Những tác phẩm này làm nên tên tuổi tôi và giúp tôi có điều kiện đi học ở nước ngoài…
- "Xa khơi" ra đời trong hoàn cảnh nào và được đón nhận ra sao?
Một điều rất đặc biệt là cứ ca khúc nào của tôi được xem là thành công cũng đều gắn với một sự kiện hay việc gì đó khiến tôi phải khổ sở, lao đao. Như bây giờ người ta gọi là scandal.
Năm 1962, Bộ Văn hoá, Đài Tiếng nói Việt Nam, Ban Thống nhất Trung ương, Hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức cuộc thi sáng tác hưởng ứng tiếng trống đồng khởi miền Nam, yêu cầu lúc ấy phải có tiếng nói sản xuất của hậu phương lớn để tiền tuyến yên lòng đánh giặc. Tôi suy nghĩ mãi mà không biết viết thế nào, cuối cùng đành phải thực hiện theo ý của mình. Lúc đưa ra, theo tiêu chí cuộc vận động, bài hát bị đập tơi bời. Họ cho rằng trong đó không có gì là sản xuất cả. Có người còn bảo tôi: “Cậu không có tính tư tưởng gì cả, tiêu chí cuộc sáng tác là tác động vào tư tưởng, tình cảm của tiền tuyến, làm cho các chiến sĩ xông lên chứ thế này thì nghe xong chỉ muốn… ngồi xuống”.
Trước ban giám khảo, tôi nói: “Thưa các anh, tôi nghĩ rằng cuộc chiến đâu rồi sẽ đi qua, hình bóng giặc rồi cũng đi qua, tất cả những điều đó đều là tạm thời. Tham vọng của tôi là muốn viết một cái gì đó lâu dài. Nếu các anh chấp nhận được thì cho nó ở lại, còn không thì cho phép tôi rút lui”. Lúc đó, anh Nguyễn Văn Vịnh, trung tướng, thành viên Ban Thống nhất Trung ương, nói để thận trọng thì cho phát lên Đài Tiếng nói Việt Nam và hỏi ý kiến đồng bào hai miền Nam – Bắc như thế nào. Lúc phát sóng, thính giả thích lắm, thậm chí có một du kích ở tận Đồng Tháp Mười còn gửi thư đề nghị Đài Tiếng nói Việt Nam dạy hát bài này. Kết quả là bài này đạt giải nhì, lúc đó không có giải nhất. Được giải nhưng phải mấy chục năm sau, sau năm 1975 bài này mới được phổ biến rộng rãi.
| Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ 1936: Ông sinh ra tại Thanh Chương, Nghệ An. 1955: Là diễn viên hát ở Đoàn ca múa nhân dân Trung ương 1958: Ông được biệt phái lên Đoàn ca múa Lao – Hà - Yên (Lào Cai – Hà Giang – Yên Bái) 1960: Ông chuyển về Ban Nghiên cứu Âm nhạc – Bộ Văn hoá 1963: Ông về Sở Văn hoá Quảng Ninh 1967-1972: Ông được cử đi học sáng tác âm nhạc tại Nhạc viện Bình Nhưỡng (Triều Tiên). Trở về nước, ông công tác ở Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam với tư cách là nhạc sĩ sáng tác và chỉ đạo nghệ thuật. 2001: Ông được trao Giải thưởng Nhà nước |
- Vì sao lại như vậy, thưa nhạc sĩ?
Trong giai đoạn chiến tranh, âm nhạc phải phục vụ cho chiến đấu, sản xuất, trong âm nhạc phải có máu lửa, có bước chân người lính chứ không có chỗ cho âm nhạc tình cảm. Còn với tôi, không biết từ lúc nào đã định rõ: âm nhạc nào mà phục vụ cho các hiện tượng trước mắt và tạm thời thì nó sẽ không có cuộc sống lâu dài và không có điều kiện viết hay được, chỉ có âm nhạc nào viết đầy tính nhân văn, nhân bản thì nó mới có đời sống lâu dài. Ấy vậy mà vì bài hát này tôi bị xếp vào danh sách theo khuynh hướng tiểu tư sản, bị chỉ trích trên mặt báo, kiểm điểm lên kiểm điểm xuống. Buồn lắm.
- Có phải vì như vậy mà nghe đồn có lần nhạc sĩ định vượt biên?
Đó chỉ là những lời đồn thổi mà thôi nhưng nó đập vào tư tưởng tôi rất mạnh. Người ta đồn thế không phải không có lý do nhưng lúc đó tôi vững vàng và biết mình sẽ thắng.
- Vậy còn chuyện ông phải đi cải tạo vì tư tưởng theo khuynh hướng tiểu tư sản?
Giai đoạn 1955 trở đi là thời kỳ cải tạo Nhân Văn giải phẩm, mọi xu hướng âm nhạc tiểu tư sản đều bị triệt tiêu. Bản thân tôi lúc đó xuất thân từ gia đình là thành phần địa chủ, rồi lại có tư tưởng sáng tác như thế nên phải đi về các vùng miền núi xa xôi. Lúc đó người ta không dùng từ cải tạo mà gọi là đi hạ phóng, tức cho văn nghệ sĩ đi về các vùng miền xa xôi để cải tạo tư tưởng. Nhiều nghệ sĩ thời đó như Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Thanh đều phải đi lao động. Tôi phải đi liên tục từ năm 1955 cho đến năm 1961, hết Lào Cai, Hà Giang lại đến Quảng Ninh. Trong gần 10 năm ấy, tôi vừa lao động vừa dạy nhạc cho nhân dân.
Viết về nơi mà 40 năm sau mới đặt chân đến
- Một bài hát nổi tiếng khác của ông là "Tiếng hát giữa rừng Pác Bó" nghe nói cũng bị dính "phốt"?
- Cuộc đời tôi gặp nhiều bi kịch lắm, toàn những chuyện không đâu. Tôi sáng tác bài hát này năm 24 tuổi. Lúc đó tôi và nghệ sĩ Quốc Hương - cây hát số 1 miền Nam tập kết ra Bắc thân nhau lắm. Năm 1960, nhân dịp Bác Hồ tròn 70 tuổi, anh Quốc Hương bàn với tôi nên sáng tác bài gì đấy để chào đón sự kiện này. Chúng tôi bàn nhau và biết được sự kiện 1941, Bác Hồ về nước sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước, điểm dừng chân đầu tiên của bác là Pác Pó. Nhưng phải nói thật là lúc đó tôi cũng không biết Pác Bó nằm ở Lào Cai hay Hà Giang, sang Ủy ban Dân tộc tìm hiểu mới biết là Cao Bằng nhưng hình thái thế nào thì phải đến nơi mới biết được.
Anh Quốc Hương dành dụm tiền mãi rồi lên phố Hàng Đào mua một chiếc xe đạp Trung Quốc, định 2 anh em đèo nhau đi. Xe mua về đi ngang bờ hồ, chỗ có nhiều đường ray xe điện bánh kẹt vào đường tàu điện, anh Hương lắc một cái gãy luôn cả xe. Thế là chúng tôi bàn nhau đi bộ. Cơ quan đồng ý, chưa kịp đi thì anh Quốc Hương ốm, rồi đi biểu diễn ở nước ngoài. Còn lại một mình đi không nổi, tôi tự mày mò tìm tài liệu và viết, hoàn toàn dựa vào báo.
Làn điệu thì dựa vào điệu si lượn của dân tộc Tày, Nùng, biết được nhờ những lần đi địa phương. Bài hát được đón nhận nhưng cũng không ít kẻ khen người chê. Năm 2002, tức là phải đến 40 năm sau, tôi mới có dịp đi Cao Bằng. Lúc đó tôi biết Pác Bó như thế nào. Nhưng khi bài hát ra đời, tôi lại bị đập tơi bời, bị quy là bịa đặt, nào là không lên đến nơi mà chỉ ờ nhà tưởng tượng, rồi nhạc trong bài dựa vào điệu then của đồng bào dân tộc, đây là nhạc đám ma sao dám đưa vào bài hát viết về lãnh tụ, lại kiểm điểm lên kiểm điểm xuống.
Bốn chữ T của Nguyễn Tài Tuệ
- Nghĩ lại về một thời kì lịch sử, ông thấy thế nào?
- Tôi không thấy thế này, thời kì đó tư tưởng thống nhất đất nước là bao trùm. Tất cả các loại hình nghệ thuật đều phải theo một mục đích tôn chỉ là phục vụ tầng lớp công nông binh, ngoài ra không nên nói đến cái khác. Đó là đường lối duy nhất mình không thể lệch ngoài. Dù sao thì quan điểm này đã đạt dược mục đích trong một thời kì nhất định. Đó là điều không ai có phủ nhận.
- Cuộc đời sáng tác, những tai nạn nghề nghiệp đã giúp cho ông rút ra điều gì?
- Từ lâu tôi tâm niệm về 4 chữ T. Không chỉ tôi mà các nghệ sĩ theo con đường này cũng cần phải biết đến. Thứ nhất là tài năng, đây là điều kiện cần cho người nghệ sĩ, thứ 2 là tri thức trí tuệ, thứ 3 là cái tâm, là trái tim biết yêu thương đồng bào, quê hương xứ sở. 3 chữ T đó hợp nên cái thứ 4 là cái tầm, tầm cỡ biết vượt qua khó khăn. Thiếu một trong đó thì khó có thể thành công.
(Sau khi học ở nước ngoài về, nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ tập trung vào soạn nhạc giao hưởng và viết nhạc không lời. Thỉnh thoảng ông vẫn viết ca khúc nhưng không nhiều. Ca khúc mới nhất của ông là "Mơ quê", thể hiện ước mong cuối đời của người nghệ sĩ trở về thăm lại quê hương. Bài hát đã được công bố và nhiều nơi mua bản quyền lần đầu.)