Mỗi khi nền âm nhạc có “vấn đề”, chúng ta vẫn thường đặt dấu chấm hỏi cho các ca sĩ. Cũng dễ hiểu bởi họ chính là bộ mặt, là bề nổi của làng showbiz Việt với nghịch lý, khi một sáng tác nào thành công thì người được nhắc đến nhiều hơn vẫn là họ, những nghệ sĩ trình diễn ca khúc.
Thế nên khi nhạc Việt lâm vào tình trạng bão hòa thì các ca sĩ phải chịu vạ lây mà ít ai nghĩ rằng - nguyên nhân quan trọng hơn nằm ở nơi nhạc sĩ?
Nhạc Việt "thịnh hay suy" do nhạc sĩ?
Khoan nói đến mơ ước cao xa là đưa nhạc nhẹ Việt Nam ra với dòng chảy của thế giới, lên sóng MTV... Chúng ta chỉ cần bàn đến việc nếu nhạc Việt đã đưa được công chúng trở về với nhạc Việt trong nửa cuối những năm 1990 thì đã là một cú chuyển mình mạnh mẽ.
Thành công ấy là nhờ sự góp sức của cả một thế hệ nhạc sĩ tài hoa như Thanh Tùng, Dương Thụ, Trần Tiến, Nguyễn Cường, Phú Quang, Phó Đức Phương, Bảo Chấn... cùng một lớp nhạc sĩ trẻ đầy tiềm năng như Quốc Trung, Huy Tuấn, Anh Quân, Việt Anh, Võ Thiện Thanh...
Chúng ta hay nhắc đến thế hệ ca sĩ thành danh trong thời kỳ này là Thanh Lam, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Trần Thu Hà, Siu Black hay thậm chí có cả Phương Thanh, Lam Trường...
Các tài năng này đã làm hồi sinh nhạc Việt nhưng thực ra, ngoài khả năng thiên phú thì điều còn lại mang tính quyết định cho đẳng cấp của họ chính là ở tư duy biết tìm đúng nhạc sĩ để “kết hợp”.
Phải từ sự kết hợp ấy họ mới được các nhạc sĩ đưa ra phương án tìm tòi, thể nghiệm ở một thể loại nhạc nào đó, thậm chí là họ còn phải chịu sự chi phối, dẫn dắt của những người thầy, người bạn lớn của mình.
Nếu không biết tìm đến Trịnh Công Sơn, Dương Thụ thì Hồng Nhung có lẽ sẽ không có được như ngày hôm nay. Nhưng vốn là người thông minh nên Hồng Nhung đã biết chọn ngã rẽ cho sự nghiệp của mình.
Thanh Lam dù có bùng nổ đến mấy mà không có Thanh Tùng, Thuận Yến chỉ lối thì sự nghiệp của cô chắc cũng chẳng thể “thăng” để trở thành diva. Hay sự thay đổi, làm “trẻ mình” trong âm nhạc của ca sĩ Mỹ Linh phải nhờ đến luồng gió từ người bạn đời của mình mang lại - nhạc sĩ Anh Quân.
Tương tự, Siu Black mà không có Nguyễn Cường, nếu có sáng thì thứ ánh sáng ấy không thể rõ nét như những tình khúc mà nhạc sĩ này đã viết dành cho Tây Nguyên. Nói như thế, không phải là phủ nhận vai trò của ca sĩ mà để hiểu rằng, nhạc sĩ mới chính là tác nhân chính yếu cho một nền âm nhạc thịnh hay suy.
Có thể nói trong vài năm trở lại đây, thế hệ nhạc sĩ vừa nêu gần như đã “mất tích” trên bản đồ âm nhạc Việt Nam. Sau những live show hoành tráng, đẫm chất tài hoa, những tưởng Thanh Tùng sẽ trở lại với âm nhạc nhưng thật ra đó chỉ là những phép “thử” cho các sáng tác của mình có còn ở trong lòng công chúng hay không. Và sau đó ông gần như biến mất.
Dương Thụ là người không làm nhiều nhưng trong năm qua ông còn làm ít đi và trong năm nay chỉ xuất hiện chủ yếu trong Bài hát Việt (VTV) với vai trò là người phát hiện ra cái mới.
Những Thuận Yến, Trần Tiến, Nguyễn Cường là những tên tuổi lớn nhưng không phải là những nhạc sĩ gần gụi với công nghệ, phong cách sáng tác mang nặng tính ngẫu hứng lại thêm khoản tuổi tác đã chất chồng nên khó lòng chờ đợi thêm những sáng tác mà họ đã từng có trong quá khứ.
Đáng tiếc nhất rơi vào trường hợp của nhạc sĩ Bảo Chấn, trong lúc sự nghiệp đang sung mãn thì lại bị vướng vào một “sự cố” không đáng để suốt cả một thời gian dài, ông gần như không có hoạt động gì. Và như thế, thế hệ nhạc sĩ này dường như đã ngưng đọng hoặc đang lắng lại sau một quãng thời gian cống hiến dài hơi.
Tất nhiên, bên cạnh những tên tuổi này thì một thế hệ nhạc sĩ đương đại đã dần xuất hiện và có những dự án âm nhạc đáng được trân trọng như Quốc Trung, Đỗ Bảo, Lê Minh Sơn, Anh Quân, Huy Tuấn...
Với những Mây trắng bay về, Khu vườn yên tĩnh, Đường xa vạn dặm..., Quốc Trung được nhìn nhận là một nhạc sĩ chuyên nghiệp từ cách làm nhạc lẫn khả năng thẩm thấu, tiếp nhận cái mới trên tinh thần gìn giữ những giá trị âm nhạc đã được xem là di sản của dân tộc.
Cách làm như thế không thể đòi hỏi những dự án liên tục. Là một nhạc sĩ tưởng chừng như đã bị ngủ quên, Lê Minh Sơn tỏa sáng với dòng nhạc dân gian đương đại mà có người cho rằng anh là nhạc sĩ kế thừa những tinh túy của Nguyễn Cường, Dương Thụ, Trần Tiến.
Sự tiếp nhận có ý thức đã làm nên một Lê Minh Sơn riêng biệt, không bị nhòa lẫn với bất kỳ nhạc sĩ nào. Bên cạnh đó còn là những nhạc sĩ trẻ có khả năng làm “lớn chuyện” như Đỗ Bảo, Anh Quân, Ngọc Châu, Nguyễn Xinh Xô, Nguyễn Vĩnh Tiến... Và gần hơn, danh sách này được bổ sung thêm với những Giáng Son, Lưu Hương Giang...
Tuy nhiên, dù có đủ tài năng nhưng lớp nhạc sĩ này vẫn chưa tạo được một lực hút cho công chúng như thế hệ trước đó từng làm được. Vì thế, thị phần bắt đầu được chia nhỏ cho nhiều nhạc sĩ mà trong đó có không ít người là nhạc sĩ cơ hội.
Song song sự tồn tại của lớp nhạc sĩ thị trường, những tác giả của những sản phẩm không sang nhưng vẫn có thể chấp nhận được vì nó đáp ứng nhu cầu giải trí của đa số khán giả, vẫn còn đó một lớp nhạc sĩ học đòi, nhân danh nghệ thuật để sống ký sinh trên sự nghiệp của những ca sĩ trẻ thèm thuồng danh vọng nhưng thiếu khả năng lẫn ý chí.
Cái gọi là sáng tác của họ thực ra chỉ là chế tác ra những giai điệu lai căng, với những lời ca hỗn độn. Điều đáng nói là loại âm nhạc này đã hoạt động xông pha, dữ dội vào tận hang cùng ngõ hẹp và chưa có một tín hiệu nào dự báo là sẽ thuyên giảm.
Thậm chí còn có cảm giác là bất kỳ ai chỉ cần làm ra được một giai điệu (dù chẳng ra gì) cũng nghiễm nhiên trở thành một nhạc sĩ như có lần trong một cuộc hội thảo của Hội Nhạc sĩ TP.HCM, một số vị nhạc sĩ có tên tuổi đã phải lên tiếng.
Rõ ràng là, nhạc Việt hôm nay đang thừa mứa các nhạc sĩ “nhân danh” nhưng lại thiếu vắng những tên tuổi thực sự. Vì thế, những ca sĩ ngôi sao như Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng, Lam Trường, Đan Trường... dù chưa đến nỗi tụt hạng nhưng bắt đầu đuối sức.
Ở những giọng hát triển vọng như Khánh Linh, Vương Dung, Ngọc Khuê... hừng hực sức trẻ nhưng vẫn phải quẩn quanh đi tìm các ca khúc phù hợp. Các diva vẫn chứng tỏ đẳng cấp nhưng Thanh Lam phải về với Lam xưa, Hồng Nhung cứ phải “về” với Trịnh... Vậy thì, nhạc Việt “chựng” lại, lỗi chẳng phải là ở các nhạc sĩ hay sao?