Thế hệ chúng tôi biết ông với cương vị là người sáng lập tổ chức Hội Khuyến học tỉnh. Ông nguyên là Uỷ viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Được trò chuyện cùng ông, tôi tìm thấy ở vị lão thành cách mạng này một kho “tư liệu sống” về lịch sử kháng chiến của nhân dân Vùng mỏ...
Mặc dù đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm” với hơn 80 năm tuổi đời và 60 năm tuổi Đảng, nhưng ông Vũ Cẩm vẫn còn minh mẫn và khoẻ mạnh. Hiện ông là Phó Chủ tịch Thường trực thứ nhất Hội Khuyến học tỉnh. Ông kể, tên gọi của ông lúc nhỏ là Nguyễn Khắc Hàm, đến khi tham gia Đại đội Hồ Chí Minh, để đảm bảo an toàn và bí mật ông được tổ chức đổi tên thành Vũ Cẩm. Cũng kể từ đó cái tên Vũ Cẩm đã gắn bó với ông cho đến tận bây giờ. Ông bảo, ông may mắn khi được sinh ra trong gia đình làm nghề dạy chữ nho và bốc thuốc chữa bệnh. Cha ông đã từng là công nhân Nhà máy Cơ khí Cẩm Phả. Mẹ ông là người có công với cách mạng. Anh trai, chị gái ông là liệt sĩ. Sự khảng khái của nhà nho, tinh thần bất khuất của người thợ mỏ và truyền thống cách mạng của gia đình đã nuôi dưỡng ông trưởng thành. 12 tuổi ông bắt đầu tham gia cách mạng. Năm 17 tuổi ông được đặc cách kết nạp vào Đảng. Ông là một trong những chiến sĩ đầu tiên của Đại đội Hồ Chí Minh của Vùng mỏ.
Gốc gác ở Đông Anh, Hà Nội nhưng ông được sinh ra và lớn lên ở Vùng mỏ. Tuổi thơ của ông gắn với những hòn than đen óng, với những khu phố thợ nằm chênh vênh trên núi. Đặc biệt hình ảnh những người thợ phu mỏ bị bóc lột, bị đàn áp dã man, đã sớm cho ông nhận thức được con đường cách mạng. Lúc bấy giờ (tháng 4-1945), tình hình ở Khu mỏ rất phức tạp. Quân Pháp đầu hàng, dâng Khu mỏ cho phát xít Nhật. Quân Nhật đàn áp, bắt bớ, đánh đập công nhân rất dã man. Lại thêm nạn đói, dịch bệnh hoành hành… Trầm ngâm một lúc như để kìm nén cảm xúc đang trào dâng khi nghĩ về quá khứ cơ cực nhưng đầy hào hùng của người dân Đất mỏ, ông bồi hồi nhớ lại: “Tôi còn nhớ, ngày 2-5-1945 cơ sở Việt Minh ở Cẩm Phả đã giác ngộ binh lính Bảo an ở Cửa Ông làm binh biến theo cách mạng, tham gia đội tự vệ vũ trang đầu tiên của chiến khu Trần Hưng Đạo. Ngày 8-6-1945, chiến khu Đông Triều được thành lập. Tiếp đến là ngày 20-7-1945, Việt Minh giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên. Từ đó, không khí sôi sục cách mạng đã bao trùm cả Vùng mỏ”.
Trong bối cảnh đó, ông đến với cách mạng một cách hết sức tự nhiên như có duyên cơ vậy. Ông được cán bộ Việt Minh dạy cho bài hát “Tiến quân ca” rồi tham gia vào cuộc biểu tình của nhân dân Khu mỏ. Giọng sang sảng, đầy phấn khích, ông kể tiếp cho chúng tôi nghe: “Mấy anh làm trong Nhà máy Cơ khí Cẩm Phả bí mật rèn đúc vũ khí, giáo mác, súng kíp. Người gác kho mìn, bí mật lấy mìn tập trung về phố Li-on (nay là phố Quang Trung). Các anh đi vào từng nhà vận động mọi người chuẩn bị giáo, mác, đuốc thắp sáng… Sau một quá trình chuẩn bị, chiều tối ngày 12-8-1945 đoàn biểu tình rầm rập đi trên đường phố. Qua mỗi con phố, đoàn lại đông thêm người. Vì thế mà đoàn biểu tình lên tới hàng ngàn người rầm rầm, rộ rộ kéo chật kín cả một con phố dài. Lúc bấy giờ tôi mới 12 tuổi. Tuy chưa hiểu thế nào là biểu tình, nhưng xuất phát từ khao khát muốn đấu tranh để được tự do, hạnh phúc, những đứa trẻ như tôi đã cố gào thật to: “Việt Minh muôn năm!”, “Việt Nam độc lập muôn năm!”. Khí thế hừng hực của cuộc biểu tình đã khiến cho Đại lý Pháp, Tri Châu, lĩnh dõng hoảng sợ, bỏ nhiệm sở, rã ngũ về làng. Toàn Vùng mỏ đặt trong sự kiểm soát của lực lượng công nhân và thanh thiếu niên đất mỏ. Tôi cùng một số “nhau” mỏ (trẻ em làm thuê, nhặt than, đội than, đội đá ở mỏ dưới chế độ cũ - PV) được phân công làm liên lạc giữa các điểm canh gác của quần chúng nhân dân Khu mỏ. Những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tình hình chính trị ở Vùng mỏ rất phức tạp. Bọn tàn quân Pháp đã quay lại chiếm đóng Vạn Hoa, Cô Tô. Quân Tưởng Giới Thạch đang tiến vào giải giáp quân Nhật. Bọn Việt Cách lăm le cướp chính quyền non trẻ của ta vừa mới giành được. Bọn thổ phỉ thì gây rối phá hoại. Nhưng với tinh thần đoàn kết chung sức một lòng đấu tranh cho độc lập, tự do, hạnh phúc; xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân Vùng mỏ đã lần lượt đẩy lùi và đánh tan các thế lực xâm lược. Tin về cuộc Tổng khởi nghĩa ngày 19-8-1945 thành công ở Hà Nội lan về đã làm cho không khí cách mạng ở Vùng mỏ lúc bấy giờ thêm sôi sục”. Theo ký ức của ông Cẩm, ngày 22-8-1945, ông và nhóm “nhau” mỏ từ trên khu phố xếp hàng trật tự kéo nhau xuống Bến tàu Cẩm Phả đón một đơn vị nhỏ của giải phóng quân do đồng chí Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Văn Thiện chỉ huy về lập chính quyền cách mạng ở Vùng mỏ. Đội giải phóng quân về Cẩm Phả lúc bấy giờ chỉ có vài chục người, nhưng hậu thuẫn là hàng trăm, ngàn thanh niên và công nhân mỏ. Tổng khởi nghĩa thành công, chính quyền cách mạng nhanh chóng tập trung ngay vào diệt giặc đói, giặc dốt. Ông bảo: “Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 ở Vùng mỏ không đổ máu. Nhưng đó là kết quả sự hy sinh của nhiều thế hệ người Việt Nam, trong đó có hàng trăm, hàng ngàn người đã ngã xuống vì nạn đói năm 1945. Nó thức tỉnh lương tri của mọi người. Nó làm cho kẻ thù và bọn tay sai phải khiếp sợ vì chính những tội ác chúng gây ra cho nhân dân ta”. Sinh ra khi cuộc Cách mạng Tháng Tám hào hùng của dân tộc đã trôi qua 34 năm, được học, được đọc nhiều qua sách vở, nhưng đây là lần đầu tiên tôi có cảm giác như mình đang được sống trong những tháng ngày sục sôi ấy của Vùng mỏ. Qua kho “tư liệu sống” của ông, chúng tôi càng hiểu rõ và thấm thía hơn những hy sinh mất mát, những khó khăn gian khổ của nhân dân ta qua các cuộc kháng chiến. Cảm phục tinh thần chiến đấu, học tập và làm việc của lớp lớp cha anh đi trước, thế hệ chúng tôi hôm nay càng tự nhủ, phải sống sao cho thật xứng đáng.