Trong công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội của Quảng Ninh nói riêng, đất nước nói chung, nhất là khi chúng ta bước vào hội nhập kinh tế với thế giới như hôm nay thì nhân lực luôn là một trong các yếu tố then chốt.
Thực hiện tốt công tác dân số- kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) cũng đồng nghĩa với việc tạo tiền đề vững chắc cho việc phát triển, đào tạo một nguồn nhân lực chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. PV Báo Quảng Ninh đã có cuộc trò chuyện với đồng chí Vũ Văn Thông (ảnh), Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh về vấn đề này.
+ Đồng chí cho biết một số kết quả nổi bật trong công tác DS -KHHGĐnăm 2006?
- Nhìn chung, công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh năm qua đã đạt được những kết quả nhất định. Tỷ suất sinh giảm 0,3%o; tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm 0,3% so với năm 2005 (hai chỉ tiêu cơ bản này, Quảng Ninh là một trong những tỉnh đạt tỷ lệ thấp nhất toàn quốc). Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai tăng 0,5% so với năm 2005. Số con bình quân/phụ nữ từ 15- 49 tuổi là 1,96, giảm 0,05, đạt kế hoạch UBND tỉnh giao. Một kết quả đáng nói là tác động tích cực của chiến dịch đưa dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình tới vùng xa, vùng khó khăn. Năm 2006, chiến dịch được triển khai ở 166/186 xã, phường của toàn tỉnh. Qua đó, nhận thức của cộng đồng, nhất là đồng bào vùng dân tộc về DS-KHHGĐ đã có những chuyển biến đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh đó công tác DS-KHHGĐ còn có những khó khăn đó là sự quan tâm của các cấp lãnh đạo có nơi, có lúc còn hạn chế; cơ chế quản lý các chương trình mục tiêu của Trung ương có sự thay đổi; cơ chế chính sách cho các cộng tác viên (CTV), cán bộ dân số ở cơ sở xã, phường còn nhiều bất cập.
+ Đồng chí có thể nói rõ hơn về bất cập, trong cơ chế chính sách cho cán bộ DS, GĐ&TE ở cơ sở?
- Hiện tại, cộng cả phụ cấp của trung ương và tỉnh hỗ trợ cho mỗi cán bộ chuyên trách dân số của xã, phường là 330.000-370.000 đồng/người/tháng tuỳ theo vùng. Số tiền này so với công việc mà họ phải đảm đương là còn rất thấp. Đặc biệt, phụ cấp của CTV dân số như mức hiện nay là 50.000 đồng/người/tháng là quá thấp. Hiện nay, mỗi xã, phường có từ 10-12 cộng tác viên; toàn tỉnh khoảng 2.000 người. Các CTV là những người trực tiếp tuyên truyền, vận động cộng đồng ở cơ sở mình thực hiện công tác DS, GĐ&TE; trực tiếp vận động, cung cấp các biện pháp tránh thai phi lâm sàng, lập báo cáo về công tác DS, GĐ&TE hàng tháng... Công việc nhiều mà phụ cấp như vậy làm sao động viên họ cộng tác được. Bởi vậy, nên năm nào cũng có tới 20- 30% CTV bỏ việc, phải thay mới mà như vậy nghĩa là chúng tôi lại phải đào tạo lại, tập huấn các kỹ năng tuyên truyền, cách thu thập thông tin, báo cáo... rất vất vả. Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh đã có hơn 2 lần đề nghị với UBND tỉnh trình HĐND tỉnh điều chỉnh, nâng mức hỗ trợ phụ cấp cho các CTV nhưng vẫn chưa đạt kết quả. Mới đây, đồng chí Ngô Xuân Nhạc, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh đã cam kết sẽ cùng ngành tháo gỡ khó khăn này...
+ Được biết, một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng dân số đó là chăm sóc sức khoẻ sinh sản, nhất là sinh sản vị thành niên. Đồng chí cho biết vấn đề này đã được ngành thực hiện tới đâu?
- Năm 2004, ngành DS, GĐ&TE phối hợp với Sở Giáo dục – Đào tạo triển khai thí điểm mô hình chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên ở 3 điểm trên địa bàn TP Hạ Long là: Trường THPT Hòn Gai, phường Hồng Hải và phường Hà Khẩu. Qua hai năm thực hiện thấy rằng mô hình rất hiệu quả và năm 2006, triển khai tiếp tại 7 điểm trường mới, thuộc khối THPT trên địa bàn tỉnh. Kết quả đã nhận được sự đồng thuận của các thầy cô giáo và các em học sinh. Chúng tôi thật sự bất ngờ bởi sự quan tâm của các em tới vấn đề này là rất nhiều. Buổi tổng kết mô hình, hội trường của Trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh 500 ghế nhưng không còn chỗ trống. Những câu hỏi của các em cho thấy nhu cầu kiến thức về vấn đề sức khoẻ sinh sản vị thành niên là rất lớn. Theo lãnh đạo Sở Giáo dục- Đào tạo cho biết thì đã có rất nhiều trường THPT, đăng ký triển khai mô hình này trong năm 2007.
+ Đồng chí đánh giá như thế nào về vai trò của các cấp, ngành trong xã hội hoá công tác DS, GĐ&TE trên địa bàn tỉnh?
- Công tác DS, GĐ&TE là vấn đề của toàn xã hội mà Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em là cơ quan thường trực với sự tham gia của 14 cơ quan, đơn vị thành viên. Năm 2006, Uỷ ban DS, GĐ&TE tỉnh đã tổ chức ký kết và tuỳ theo đặc điểm mỗi thành viên mà có những nội dung triển khai cho phù hợp, ở cấp huyện cũng vậy. Năm 2006, chỉ tính riêng vấn đề vận động Quỹ Bảo trợ trẻ em cả 14/14 huyện, thị xã, thành phố đều vượt chỉ tiêu đề ra, cho thấy sự tham gia của cộng đồng vào xã hội hoá công tác DS, GĐ&TE rất tích cực.
+ Xin cảm ơn đồng chí về cuộc trò chuyện này!