Nhà truyền thống TX Uông Bí toạ lạc trong khuôn viên Trung tâm VHTT thị xã Uông Bí, gồm có 2 tầng, tổng diện tích sàn hơn 500 m2, tổng giá trị đầu tư là hơn 2 tỷ đồng. Công trình văn hoá này được khánh thành đúng vào dịp TX Uông Bí kỷ niệm 45 năm ngày thành lập (28-10-1961– 28- 10- 2006).
Mộ thuyền - hiện vật đặc biệt nhất của Nhà truyền thống TX Uông Bí
Nhà truyền thống TX Uông Bí là nơi trưng bày những hiện vật lịch sử, ảnh tư liệu liên quan tới vùng đất và con người Uông Bí từ thời Lý- Trần (thế kỷ 11- 13) cho tới giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ và công cuộc đổi mới của Uông Bí hôm nay. Tại gian phía ngoài là nơi trưng bày Uông Bí trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Các hiện vật gốc, như đạn pháo 100 ly, đạn cối moóc-chi-ê, lựu đạn v.v. là những vũ khí mà giặc Pháp đã bắn, ném xuống Uông Bí thời kỳ chúng chiếm đóng Uông Bí. Góc bên đối diện là những hiện vật thời chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bao gồm: 1 chiếc mũ phi công, 1 áo phao, 1 mảnh xác máy bay, 1 ống pháo sáng. Đây là mảnh xác máy bay và tư trang của 2 tên phi công bị quân và dân TX Uông Bí bắn rơi năm 1972. Máy bay tan xác và hai tên phi công thì bị chết tại chỗ. Ngoài ra còn có những bức ảnh tư liệu, phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ của quân và dân TX Uông Bí những năm tháng lịch sử.
Gian phía bên phải nhà truyền thống là nơi trưng bày các hiện vật liên quan tới khu di tích Yên Tử, bao gồm: 1 chiếc đĩa, 1 bát và bình gốm niên đại thế kỷ 16- 17, 1 bát hương đồng đúc nổi hình rồng, phượng, mây lửa có niên đại thế kỷ 19. Một số hiện vật có niên đại thời Trần (thế kỷ 13) là thời kỳ Yên Tử trở thành trung tâm Phật giáo của Đại Việt, gồm: 1 khối trang trí kiến trúc bằng đá tạc nổi hình chim thần Ga-ru-đa (do chịu ảnh hưởng của văn hoá Chăm – pa), 1 viên gạch hoa cúc và 1 viên ngói lá đề kép, 1 bức trang trí ô cửa bằng gỗ chạm hình hoa, lá. Tất cả số hiện vật trên còn khá nguyên vẹn. Tuy nhiên, đáng quan tâm nhất trong số những hiện vật trưng bày ở đây là 1 mộ thuyền, được phát hiện năm 1992 tại khu vực gần núi Con Rùa, xã Phương Đông (Uông Bí). Mộ thuyền là hình thức mai táng của người Việt cổ thời Hùng Vương ở giai đoạn trước và sau công nguyên (cách ngày nay trên dưới 2000 năm). Sở dĩ gọi là mộ thuyền bởi những chiếc quan tài này được người xưa khoét rỗng lòng từ hai nửa của một đoạn thân cây lớn rồi úp vào nhau, mỗi đầu có 2 tay khiêng, trông gần giống như chiếc thuyền nên gọi là mộ thuyền. Trên đất nước ta, mộ thuyền đã được phát hiện ở một số tỉnh: Hưng Yên, Hà Tây, Hà Nam. ở Quảng Ninh, cho tới nay chỉ mới phát hiện được mộ thuyền tại hai xã Phương Đông và Phương Nam (Uông Bí). Cách bên kia sông Đá Bạc là xã Việt Khê, thuộc huyện Thuỷ Nguyên (Hải Phòng), cũng là nơi những năm trước các nhà khảo cổ đã phát hiện mộ thuyền. Trở lại mộ thuyền phát hiện tại núi Con Rùa năm 1992, hiện trưng bày tại nhà truyền thống TX Uông Bí. Đây là một mộ thuyền khá to so với các mộ thuyền đã phát hiện ở 2 địa điểm trên. Chiều dài của mộ thuyền là 3,8 m, chiều rộng khoảng 0,7m. Điều đặc biệt so với các mộ khác là các nhà khảo cổ đã phát hiện trong mộ còn 1 bộ hài cốt khá nguyên vẹn, bao gồm xương sọ, xương sống, xương đùi, đốt sống cổ... Căn cứ vào hình dáng, kích thước xương sọ thì nhiều khả năng đây là hài cốt của 1 phụ nữ. Ngoài bộ hài cốt còn có những đồ vật được chôn theo, chất liệu bằng đồng như: giáo, rìu, vòng tay, vòng chân, che ngực, kim đan lưới, lưỡi hái. Trong đó, nhiều nhất là rìu đồng- 5 chiếc, gồm rìu xéo và rìu xoè cân. Có cả 1 mảnh lõi vòng bằng đá ngọc màu trắng, hình tròn. Tất cả những hiện vật chôn theo kia “nói” lên rằng chủ nhân của mộ thuyền là một người giàu sang, là thủ lĩnh hoặc chí ít có vai vế trong xã hội lúc bấy giờ. Những dụng cụ như kim đan lưới, lưỡi hái chỉ ra phương thức sống chính của người Việt cổ lúc đó là đánh bắt cá và trồng lúa nước. Trải qua hàng ngàn năm vùi trong bùn, những hiện vật bằng đồng chôn theo người quá cố đã bị rỉ xanh. Mặc dù số lượng hạn chế nhưng thông qua các hiện vật, tài liệu ảnh trên đã tái hiện phần nào về vùng đất và con người Uông Bí trong tiến trình của lịch sử, từ thời đại Hùng Vương cho tới hôm nay. Đây là những tư liệu quý cần bảo quản, giữ gìn và phát huy giá trị, nhất là trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của địa phương nói riêng, của tỉnh nói chung.