Chị Chíu Sám Múi, xã Quảng Lâm (Đầm Hà):
Thoát nghèo nhờ ham học hỏi
Chị Chịu Sám Múi, dân tộc Dao (xã Quảng Lâm, Đầm Hà) là tấm gương điển hình của phụ nữ dân tộc trong thời kỳ mới. Với mong muốn thoát nghèo bằng kiến thức, chị đã không ngại khó khăn, không ngại tuổi cao quyết tâm học chữ, áp dụng kiến thức học được vào thực tế cuộc sống, phát triển kinh tế gia đình.
Trước đây gia đình chị rất khó khăn, do hiểu biết hạn chế nên sinh nhiều con, cả gia đình 9 miệng ăn chỉ trông vào mấy sào ruộng. Bởi vậy 1 năm 12 tháng thì có tới 4-5 tháng gia đình thiếu ăn, phải đi vay từng bữa. Sau khi được vận động, chị tham gia vào các tổ chức đoàn thể của xã, thường xuyên được nghe phổ biến về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, được nghe tuyên truyền về các chương trình phát triển kinh tế của huyện, nghe các tấm gương chị em phụ nữ làm giàu, chị đã quyết tâm nỗ lực học để có kiến thức áp dụng vào sản xuất, phát triển kinh tế gia đình. Được sự giúp đỡ của các tổ chức đoàn thể, chị đã mạnh dạn vay vốn để đầu tư mua trâu, lợn, gà về nuôi. Nhờ chịu khó tham khảo và học hỏi cách thức chăn nuôi phù hợp, lứa đầu gia đình chị thu nhận hơn 10 triệu đồng. Với số tiền đó, chị tiếp tục đầu tư mua thêm trâu, gà, lợn giống về nuôi; rồi đầu tư trồng quế, các loại cây ăn quả... Hiện gia đình chị chăn nuôi hơn chục con trâu, hàng trăm con ngan, gà, trồng hàng chục ha quế và cây ăn quả đang cho thu hoạch; 6.000m2 trồng lúa, 3.000m2 trồng ngô, tương lạc; 1.000m2 ao nuôi cá nước ngọt... lợi nhuận trung bình hàng năm trên 40 triệu đồng. Gia đình chị còn có quầy hàng kinh doanh tổng hợp, phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân trong xã.
Nhạy bén với thị trường, biết cách chọn lựa các mô hình thích hợp để đầu tư, chị đã trở thành một điển hình trong phát triển kinh tế gia đình của địa phương. Là hội viên Hội Phụ nữ xã, chị cùng với Hội thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện trao đổi với bà con trong thôn, xã về những cách làm kinh tế, những kinh nghiệm trong đầu tư phát triển sản xuất, giúp họ tự vươn nên thoát khỏi đói nghèo. Chị tâm sự: “Phụ nữ dân tộc vùng cao có nhiều hạn chế so với các chị em ở dưới xuôi, vì vậy muốn thoát nghèo, muốn hoà nhập với xã hội, con đường duy nhất là phải chịu khó học hỏi, chỉ có kiến thức mới và nền tảng tạo nên tất cả”.
Trung tá Lý Văn Long, Đội Trưởng Đội Trinh sát Phòng Bảo vệ chính trị 4 - công an tỉnh:
Phần thưởng lớn nhất là sự tin yêu của đồng bào
Trung tá Lý Văn Long, Đội trưởng Đội Trinh sát Phòng Bảo vệ chính trị 4 - Công an tỉnh được tất cả các già làng, trưởng bản, người có uy tín vùng đồng bào DTTS trong tỉnh biết đến, yêu mến, tin tưởng. Khi kể về anh, nhiều già làng, trưởng bản còn nhắc đi, nhắc lại “Người cán bộ công an ấy luôn là điểm tựa của đồng bào dân tộc thiểu số chúng tôi”.
Anh là người dân tộc Sán Dìu, sinh ra và lớn lên tại xã Sơn Dương (Hoành Bồ). Năm 1984 anh tốt nghiệp chuyên ngành Điều tra tội phạm - Đại học An ninh (nay là Học viện An ninh), được phân công về công tác tại Phòng Bảo vệ chính trị 4 - Công an tỉnh. Nhiệm vụ của anh là đảm bảo ANTT trong vùng dân tộc thiểu số. 25 năm công tác, ở bất kỳ hoàn cảnh, cương vị nào Trung tá Lý Văn Long, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Do đặc thù công tác luôn phải ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hải đảo, biên giới, để trụ được với công việc, anh luôn bám sát địa bàn, gần dân, nắm tâm tư nguyện vọng của dân, từ đó tham mưu cho cấp thẩm quyền những giải pháp phù hợp giúp dân phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện cuộc sống, XĐGN, nâng cao dân trí, xoá bỏ các hủ tục... 2/3 số thời gian trong tháng, anh luôn ở cơ sở để nắm phong tục tập quán, học tiếng, ăn, ở cùng đồng bào dân tộc, để vận động, thuyết phục đồng bào chấp hành chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước (hiện ngoài tiếng dân tộc mình và tiếng Kinh, anh Long còn biết 7 tiếng dân tộc khác: Dao, Tày, Thanh Y, Thanh Phán, Sán Chỉ, Nùng, Cao Lan). Anh đã cùng với các già làng trưởng bản, người có uy tín trong vùng dân tộc giải quyết kịp thời hàng ngàn vụ việc ở 990 thôn, khe bản của tỉnh; giúp cấp uỷ, chính quyền cơ sở đấu tranh, thu giữ hàng trăm ấn phẩm liên quan đến hoạt động tôn giáo trái pháp luật; cung cấp hàng trăm tin có liên quan đến ANTT, giúp lãnh đạo Công an tỉnh có biện pháp ngăn chặn kịp thời, góp phần giữ vững ổn định ANTT ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, tạo thuận lợi cho đồng bào yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế, gắn bó xây dựng quê hương. Anh đã được Bộ Công an, UBND tỉnh, các cấp, các ngành tặng nhiều phần thưởng xứng đáng. Song như anh tâm sự, điều anh thấy hạnh phúc và sung sướng nhất chính là đi đến đâu cũng được đồng bào đón nhận như người thân trong gia đình; có việc gì khó khăn cần tư vấn, giúp đỡ đồng bào cũng tìm đến anh. Bởi “Trung thành, tận tuỵ với đồng bào dân tộc, đồng bào sẽ giúp mình hoàn thành nhiệm vụ”.
Ông Lương Như Vương, Chủ tịch Hội CCB xã Tình Húc (Bình Liêu):
Niềm vui được đóng góp công sức xây dựng quê hương
Ông Lương Như Vương, người dân tộc Tày, xã Tình Húc (Bình Liêu) là CCB chống Mỹ. Đất nước hoà bình, ông trở về quê hương xây dựng gia đình và sinh được 4 người con. Ngày đó cuộc sống gia đình ông cũng như nhiều gia đình trong xã gặp rất nhiều khó khăn, ruộng thì ít, vốn thì không có, nên cái nghèo cái đói cứ đeo bám gia đình ông. Ngày nào cũng vậy, từ 5 giờ sáng vợ chồng ông đã ra đồng cải tạo vườn đồi, trồng rau, chăn lợn. Tích góp được khoản tiền ông đầu tư xây chuồng trại nuôi lợn, gà, kết hợp cấy lúa và trồng rau. Nhờ cần cù, chịu khó đến nay gia đình ông đã không còn thiếu ăn, thiếu mặc, có nhiều điều kiện lo cho các con học hành. Bình quân thu nhập mỗi năm của gia đình ông đạt gần trăm triệu đồng. Từng trải qua những khó khăn, vất vả nên ông thấu hiểu và cảm thông với những thiếu thốn của bà con. Vì vậy khi có điều kiện, ông luôn giúp đỡ bà con trong xã, như cho vay lợn giống, vay vốn, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm làm ăn... Ông còn tích cực đóng góp Quỹ vì người nghèo, Quỹ khuyến học, Quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc da cam, ủng hộ bà con bị ảnh hưởng bão lũ...
Với cương vị Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã ông luôn gần gũi, vận động hội viên, người dân, tham gia tích cực các phong trào thi đua, cuộc vận động, xây dựng, vun đắp tình đoàn kết giữa các dân tộc trên địa bàn. Nghe theo ông, bà con đã xây dựng được nhiều mô hình phát triển kinh tế, như: Nuôi cá, trồng rừng, chăn nuôi, trang trại, VAC... Qua đó góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng số hộ làm kinh tế giỏi, đời sống của người dân được cải thiện và nâng cao.
Ông còn cùng với cán bộ các ban, ngành tham gia vào các hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, tổ chức hoà giải, giải quyết nhiều vụ việc phức tạp xảy ra trên địa bàn. Vất vả, bận rộn là vậy, song ông rất vui vì được đóng góp công sức xây dựng, phát triển quê hương.