Hà Nam từ xa xưa nổi tiếng là vùng sông rạch chằng chịt. Sản xuất, đời sống, giao thông đi lại của cư dân chủ yếu nhờ vào hệ thống sông nước.
Những dòng sông mát rượi soi bóng những rặng tre, những rặng dừa. Con đò dọc tiếng người í ới mặt sông. Chiếc mủng nhỏ buông câu trên gợn sóng lăn tăn. Rồi những trưa hè bọn trẻ ôm quả bầu khô, ôm cây chuối tập bơi...
Các sông ngòi ở Hà Nam (Yên Hưng) đang bị ô nhiễm nặng nề.
Vậy mà bây giờ, những hình ảnh đó chỉ còn trong tâm tưởng. Hình ảnh "dòng sông con đò, cây đa bến nước" đã nhạt nhoà, biến dần khỏi làng quê thời hiện đại tự khi nào! Nhiều đoạn sông sinh thuỷ nở thành đìa chứa và thoát nước rộng hàng chục ha cho cả mấy thôn xóm, đã nham nhở những vạt đất trồng rau, những lều vịt ngập ngụa phân rác, những khu dân cư đông đúc và lộn xộn mọc lên. Các bến thuyền dày đặc bèo tai, cỏ dại trùm lấp, cây cối bên bờ đua rủ. Nước thải xả vô tội vạ. Xác súc vật, chuột chết bả, thân chuối rữa lập lờ khiến mặt sông, dòng chảy bị thu hẹp không xoè nổi mái chèo.
Trước cửa Đình Cốc có một vùng sông ngòi tồn tại hàng mấy trăm năm vừa là nguồn "thuỷ năng dưỡng mộc" cho những vườn tược xanh tươi, vừa là nơi lưu thông hàng hoá, nông sản giữa các làng xã, lại vừa là nơi làm vòng bơi chải mỗi khi vào mùa "Lễ hội Xuống đồng". Thấy chúng tôi tần ngần, xuýt xoa trước sông nước, một cụ ông đang dắt cháu trong một hẻm ngõ đi ra, liền đến bảo:
- Phải nói rằng các bậc Tiên công ngày xưa thật tài tình khi tìm phong thuỷ để đặt Đình Cốc ở nơi này! Khoát một vòng tay, cụ giải thích: -Đình Cốc lưng tựa phương bắc, dựa vào thế Yên Tử sơn. Tả là non nước Hạ Long. Hữu là dòng Bạch Đằng chảy miết phía tây. Trước mặt, nhằm hướng nam ghé đông, ngoài trông ra vời vợi sóng và gió cửa biển Nam Triệu, với cánh đồng lúa bao la làm vựa thóc nuôi sống bao đời cư dân. Để khích lệ dân chúng cấy trồng cho ruộng đất, mùa màng phong đăng hoả cốc, các cụ ta bày ra hội "Hạ điền" (tức hội Xuống đồng). Hội Xuống đồng không chỉ cầu Thần nông, Thành hoàng phù trợ tâm linh, mà người xưa còn vượt lên chính mình để chống chọi với thiên nhiên, giặc giã. Ấy thế mới lấy khúc sông này làm trường đua cho trai tráng thoả sức thi tài... Rồi lão thở dài, ánh mắt nhìn xa xăm, sáng long lanh như hiện về những ký ức thời trai trẻ trên khúc sông quê quá đỗi thân thương: -Nhưng đáng tiếc ngày nay nơi này không còn giữ được cảnh quan trong sạch! Cái "trường đua thiên nhiên" ấy trên sông nước đang nông dần, hẹp lại trước nguy cơ bèo bọt, rác bẩn, ùn ngập...
Nếu sông ngòi ngoài các cánh đồng nổi trôi những đụn rơm rạ mục như những tảng băng đen di động do các cỗ máy tuốt lúa ngày mùa xả xuống, gây mùi hôi thối lựng các khúc sông, khiến cua cá chết sặc, thì sông ngòi luồn lách trong các làng mạc, dưới lớp bùn lại lạo xạo những vỏ chai lọ, vỏ ống tiêm, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, vỏ ngán sò, trai điệp v.v... Nhiều đoạn, nước ánh lên tựa hắc ín chảy. Còn đâu cảnh sau buổi làm đồng, người nông dân vùng vẫy, tắm táp thoả thuê trong làn nước mát lành! Chẳng ai dám lội xuống sông nữa. Vì xuống đó sẽ dẫm đạp vào những thứ gây chảy máu, nhiễm trùng, mắc uốn ván như chơi! Vậy mà nhiều khu dân cư vẫn phải sử dụng nguồn nước ấy, chịu cái hơi bốc lên oi nồng vào giấc ngủ, bữa ăn... từ sông ngòi đang ô nhiễm.
Đây đó, gặp những chiếc cầu bằng gỗ, bằng xi măng chiều dài không quá ba, bốn mét. Luồng cầu chật hẹp gây ùn tắc dòng chảy. Có chiếc cầu trông xa cong vút, loè loẹt như một áng cầu Kiều vườn Thượng uyển. Tới gần, chợt ớn người vì đống rác dưới chân cầu ào lên bầy ruồi nhặng. Đang cố gắng đẩy con thuyền nan vượt khỏi đoạn sông giữa Cẩm La và Phong Cốc đặc ngẫn bèo tai, chúng tôi bỗng gặp một bà trong xóm tay vừa đổ thúng bẫn lên đống rác ven sông, miệng vừa lẩm bẩm: -Thiên hạ đổ, sợ gì không đổ! Rồi chỗ này cũng tắc họng mà thôi!
Thế này thì mùa mưa bão làm sao thoát khỏi nạn nước bẩn dâng tràn vào thôn xóm? Nước có thể ngấm đổ ra biển. Nhưng bẫn rác sẽ nghẽn lại, thối rữa hết lớp này đến lớp khác, tiếp tục bồi lấp lòng sông. Người ta sẵn sàng tỉa tót, tô vẽ cầu kì các công trình phía trên. Nhưng lại sao nhãng, lừa khứa việc dọn dẹp những phế tạp phía dưới các con sông!
Sông Quán Trong, Quán Dưới ở xã Cẩm La từng là những con sông rộng và đẹp. Thuyền lúa từ các cánh đồng trẩy về vui như hội. Bây giờ không thể lách nổi con thuyền nhỏ. Bởi đất cát, nhà cửa nống ra san sát, đứng hai bên tường rào cũng với được tay nhau. Sông đã hẹp, đã đặc ruột từ lâu. Cây cối um tùm tựa một dải vườn hoang. Dân xóm bảo: -Sự đã rồi. Chúng tôi đề nghị xã cho lấp kín đoạn sông này để làm một con ngõ mà chưa được!
Thôn Trung Bản, xã Liên Hoà, xưa có một dải sông nước mênh mang, chỉ có mấy nóc nhà với mấy chặng vó cắm đăng cất cá tôm kiếm sống. Thuyền bè làng trên xã dưới đi lại như mắc cửi. Ban đêm, các ngư ông thường treo chiếc đèn chai trên ngọn sào làm tín hiệu cho tỏ đường. Nên người ta quen gọi chòm dân cư này là xóm Đăng, tức xóm Đèn. Tôi hỏi người dân thôn Trung Bản, họ trỏ ra một khúc nước mé đường: -Xóm Đăng chỉ còn trong chuyện kể của người già! Trước mắt tôi, một đoạn ngòi cụt nông choèn tựa một con dao sắt hoen rỉ. Các khu dân cư các xã Liên Vị, Liên Hoà... cũng vậy. Có những đoạn sông chẳng khác gì những đường hầm âm u, đen đặc, làm "vương quốc" của loài muỗi. Dòng sông trước cửa đình làng Lưu Khuê tràn ngập gió chiều chỉ còn tựa một cái ao. Trên bờ ngất nghểu những toà nhà cao tầng, những tường ngõ...
Nông nghiệp, nông thôn từng bước hiện đại hoá, công nghiệp hoá. Làm ăn đi lên. Diện mạo nông thôn ngày càng đổi mới. Các làng xã được dịp mở rộng, phát triển các khu dân cư tự xây. Nhà hộp, nhà ống, đua nhau mọc cao tầng, tranh nhau, giành, lấn nhau từng tấc đất, cứ liền kề như xếp bao diêm. Người ta tiết kiệm, tận dụng đất đến nỗi nống lấn từng cm, đè lên, thu hẹp các con sông và thậm chí chẳng cần cống rãnh, chẳng cần hoạch định, chẳng cần ai thiết kế, chỉ đạo cho ra chiều ra lối. Một thời gian dài những năm 80-90 thế kỷ trước, mạnh ai người ấy dâng, mạnh ai người ấy xây. Lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo, chưa đâu ra đâu, nhiều người làm liều, hoá ra lại gặp miếng. Thẻo đất ven sông, mảnh ruộng "phần trăm" đầu bến... quay đi quay lại đã thành tư dinh tự lúc nào, đã có "sổ đỏ" tự bao giờ! Đất đai, điền địa là công thổ quốc gia. Nhưng ở đây những con sông, bến bãi lại bị thôn tính vào địa phận riêng! Suốt chặng đường dọc từ đầu cầu sông Chanh đến tận cuối mũi Vị Khê hầu hết các làng xã đều có những khúc, những con sông bị xoá tên nhường chỗ cho những khu đất, lô đất bán cho dân cư tự xây đang hứa hẹn những ngôi nhà tân kỳ, cho một cuộc chen chúc "xếp đồ hộp" mới. Ruộng đất canh tác bị thu hẹp. Sông ngòi, ao hồ - lá phổi thiên nhiên ngàn đời của làng quê - bị châm rỗ, cắt xén. Các khu dân cư mới ven làng, ven các cánh đồng, nổi cộm lên vấn đề hệ thống cống rãnh, đường thoát nước không ai lo quy hoạch. Trăm loại tạp phế lù tiếp tục đổ ra những dòng sông hẹp, lại ngấm xuống tầng nước mạch. Và rồi... lại đào giếng, lại lấy nước lên tắm rửa, vo gạo... Môi trường vùng đảo này rồi sẽ ra sao?
Gần đây, các xã Phong Cốc, Yên Hải v.v... đã nhiều lần bỏ hàng chục, hàng trăm triệu đồng, hàng nghìn công lao động nạo vét bùn, vớt bèo tai, cỏ rác, cải tạo các dòng sông thông thoáng. Phong Cốc cải tạo sông Cầu Chỗ, Hồ Miếu. Phong Hải chuyển dòng sông Cầu Ván v.v... Nhưng tiếc rằng phong trào chưa kết hợp rộng khắp. Thông thoáng chỗ này, lại ùn tắc chỗ kia. Được làng này mất làng khác. Đá ném ao bèo, đâu lại hoàn đấy, lẩn quẩn và bế tắc! Dân ven sông, trong xóm thiếu tự giác, mạnh nhà nào nhà ấy xả rác, xả chất thải. Người ta chỉ biết kêu ca, đùn đẩy cho nhau. Dân bảo cán bộ ăn lương không chịu lo. Cán bộ trách dân chây ỳ, ngang ngược. Câu ca cũ chẳng cần "ước gì sông hẹp một gang", thì nay đã hẹp, đã nghẹn rồi những con sông!
Chả lẽ người quê tôi chịu bó tay nhìn những dòng sông dưới chân mình đang nghẹn và chết dần? Chả lẽ nhìn vùng làng đảo 8 xã chứa trên đó gần 6 vạn dân với 130 di tích Lịch sử và Văn hoá cùng những công trình kinh tế - xã hội đang lẫn trong một vùng ô nhiễm nguy cơ biến thành "đảo rác"?