Nằm ở khu vực đảo Hà Nam (Yên Hưng- Quảng Ninh), xã Nam Hoà gặp rất nhiều khó khăn về nước sinh hoạt. Từ trước tới nay, người dân nơi đây sống phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước mưa. Tuy nhiên, nước mưa dự trữ cũng chỉ đủ để phục vụ các nhu cầu về ăn, uống còn các sinh hoạt khác của người dân như tắm, giặt… đều phải dựa vào nguồn nước sông.
Chị Nguyễn Thị Liên (thôn Hưng Học, xã Nam Hoà) kể: “Nhà tôi có bể chứa nước mưa 8 m3 chỉ dùng để nấu ăn, để uống, nhưng vào mùa khô cũng không đủ, phải đi xin hàng xóm. Còn các sinh hoạt khác như tắm, giặt, rửa bát… đều ra sông hết. Thời điểm này còn đỡ, chứ khi tháo cừ, nước sông cạn sạch, cả nhà phải dè sẻn từng xô nước đục. Tôi mong sao nước sạch sớm về làng…”. Chị đưa chúng tôi ra đằng sau nhà, nơi con sông chảy qua. Chỉ ở một khúc sông ngắn, chúng tôi thấy người rửa bát, người giặt quần áo... ở giữa sông, một đàn vịt dễ đến gần trăm con đang tung tăng lặn ngụp… Đồng chí Vũ Văn Đường, Chủ tịch UBND xã Nam Hoà cho biết: “Hiện nay, nước sạch đang là vấn đề rất bức xúc của người dân Nam Hoà. Tỉnh đã cho chủ trương đầu tư công trình nước sạch trên địa bàn xã, nhưng do vướng mắc về địa điểm xây dựng, thiết kế, vốn… nên đến nay vẫn chưa triển khai được”.
Không chỉ có Nam Hoà gặp khó khăn về nước sinh hoạt mà nhiều vùng nông thôn trong tỉnh cũng chung tình trạng đó, đặc biệt là những xã đảo, xã vùng sâu, vùng xa. Theo Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Quảng Ninh, hiện toàn tỉnh mới có trên 382 nghìn người dân nông thôn được dùng nước sạch (chiếm tỷ lệ 65,9%). Số còn lại vẫn đang phải sử dụng nguồn nước từ tự nhiên, không qua xử lý. Do nguồn kinh phí có hạn, nên việc xây dựng các công trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn chưa được nhiều. Theo tính toán, để 1% dân cư vùng nông thôn được dùng nước sạch thì phải đầu tư khoảng 3 tỷ đồng (trong đó vốn nhà nước 50%, vốn huy động trong dân 50%). Trung bình mỗi năm, Quảng Ninh được đầu tư từ nguồn ngân sách Trung ương 4 tỷ đồng và từ chương trình 134 (chương trình hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số về nước sạch và đất ở) là 2 tỷ đồng để xây dựng các công trình nước sạch, nhà vệ sinh cho nhân dân. Tuy nhiên, vốn huy động từ trong dân hầu như không có, do đời sống của người dân ở vùng nông thôn khó khăn, còn tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước. Một số công trình cấp nước sạch bị xâm hại gây hư hỏng do sự quản lý yếu kém của địa phương. Hiện nay còn trên 34% số dân nông thôn chưa được dùng nước sạch. Trong khi đó,nguy cơ ô nhiễm nguồn nước đang đe doạ nhiều vùng nông thôn trong tỉnh. Để nâng cao tỷ lệ người dân nông thôn được dùng nước sạch, Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường Quảng Ninh đã có kế hoạch xây dựng, cải tạo các công trình nước sạch ở nhiều vùng nông thôn trong tỉnh. Theo đó, sẽ tập trung khoan những giếng có đường kính lớn, sâu từ 70 đến 100m; xây các công trình cấp nước tập trung, các bể chứa nước mưa, giếng đào… đảm bảo cung cấp nước sạch trong dân với mục tiêu đến năm 2007, tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch tăng lên 72%. Tuy nhiên, muốn thực hiện được mục tiêu này còn rất nhiều khó khăn.