"Nếu sử dụng các khoản vay một cách hiệu quả, để tạo ra lời cao hơn mức phải trả lãi và trả gốc, thì "vay" là một việc làm khôn ngoan. Các khoản vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn dài có thể là nguồn vốn quan trọng cho phát triển". Bình luận của TS Nguyễn Quang A về kỉ lục cam kết 4,445 tỉ USD vốn vay ODA trong Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cuối tuần qua.
Các nhà tài trợ vẫn tin...
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Đảm bảo cho con cháu sau này không phải gánh nợ của cha ông và lớn lên trong môi trường không tham nhũng".
Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2006 (CG - 2006) tuần qua đã kết thúc với cam kết kỉ lục về cung cấp vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của các nhà tài trợ lên đến 4,445 tỉ USD cho năm 2007, mức cao nhất kể từ 1993. Nếu tính đến sự mất giá của đồng USD (vì vốn ODA của Nhật tính bằng đồng Yên, của EU tính bằng Euro) thì con số tăng so với các năm trước có thể ít đi đôi chút nhưng chắc chắn vẫn cao hơn mức cam kết năm ngoái. Điều đó chứng tỏ các nhà tài trợ vẫn tin vào khả năng sử dụng vốn ODA của Việt Nam.
Bảng số liệu sau cho ta thấy con số ODA cam kết (C.K.), số thực hiện (T.H.) và tỉ lệ phần trăm thực hiện trên cam kết qua các năm.
| Năm | 1993 | 1994 | 1995 | 1996 | 1997 | 1998 | 1999 | 2000 | 2001 | 2002 | 2003 | 2004 |
| C.K | 1,81 | 1,94 | 2,26 | 2,43 | 2,4 | 2,2 | 2,21 | 2,4 | 2,4 | 2,5 | 2,83 | 3,44 |
| T.H | 0,41 | 0,73 | 0,74 | 0,9 | 1,0 | 1,24 | 1,35 | 1,65 | 1,5 | 1,53 | 1,42 | 1,65 |
| % | 22,8 | 37,40 | 32,6 | 37 | 41,7 | 56,5 | 61 | 68,8 | 62,5 | 61,1 | 50,2 | 48 |
Đơn vị tính: tỉ USD. Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Như thế, tính từ năm 1993 cho đến nay, tổng số ODA cam kết là 37 tỉ, đã thực hiện được 15,9 tỉ USD. Hết năm 2005 Việt Nam đã kí các hiệp định vay ODA với tổng giá trị 22,199 tỉ USD, chiếm hơn 77% số đã cam kết đến hết năm 2004, trong đó vốn vay ODA khoảng 18 tỉ (81,3%) và viện trợ ODA không hoàn lại cỡ 4 tỉ USD (18,6%), tổng số đã giải ngân đạt khoảng 16 tỉ.
Có thể thấy ngay rằng con số cam kết mới là lời hứa sẵn sàng cho vay, có vay được hay không còn tùy thuộc vào chúng ta: đề án chuẩn bị đến đâu, các điều kiện thực hiện và tổ chức thực hiện dự án như thế nào? v.v. Rồi phải kí hợp đồng vay, và chỉ sau đó mới nói đến chuyện giải ngân.
Vốn ODA chủ yếu đã được dùng để đầu tư phát triển hạ tầng (điện lực, giao thông, nông nghiệp, cấp thoát nước, y tế giáo dục và khoa học) và sẽ được tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn.
Theo Hội nghị ngành tài chính tháng 11/2006 mới đây thì: “Nguồn vốn ODA được đánh giá góp phần thúc đẩy mạnh đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, quá trình sử dụng vốn vay đã bộc lộ nhiều bất cập, gây lãng phí, nhiều dự án triển khai không có hiệu quả. Thậm chí đã xuất hiện tình trạng, một số cơ quan thụ hưởng ODA ở địa phương vẫn còn quan niệm ODA "tiền chùa" không hoàn lại. Hậu quả của quan niệm sai lệch này là các đơn vị ra sức tranh thủ nguồn vốn ODA mà không tính toán hiệu quả kinh tế, tính bền vững sau dự án và khả năng trả nợ” (VietNamNet 25/11/2006).
Công khai tiền vay, tiền nợ
Cũng theo số liệu của Hội nghị trên (và của Tổng cục thống kê) có thể suy ra đến hết 2007 GDP dự kiến của Việt Nam sẽ đạt cỡ 1130 ngàn (977 ngàn - Số liệu của Tổng cục thống kê) tỉ đồng. Tổng nợ nước ngoài của Việt Nam là 22 tỉ (19 tỉ) USD, tổng nợ Chính phủ cỡ 26,3 tỉ (23 tỉ) USD. Theo ông trưởng đại diện IMF tại Việt Nam, tổng nợ quốc gia của Việt Nam là 45% GDP. Lẽ ra cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên thường xuyên công bố công khai các số liệu này để đỡ phải ước đoán và có số liệu chính xác. Công bố công khai những con số này để cảnh báo rằng Nhà nước chúng ta đang mắc nợ, cả trong và ngoài nước, để cho những ai nghĩ các nguồn vốn vay là “tiền chùa” và có thể chi tiêu thoải mái phải thận trọng, phải tính toán sao cho sử dụng vốn vay có hiệu quả, để không chuyển gánh nặng nợ nần sang đôi vai của các thế hệ mai sau như Thủ tướng Chính phủ đã long trọng tuyên bố.
Để biến tiền nợ thành tiền lãi?
Nợ không hẳn là chuyện dở.
Nếu sử dụng các khoản vay một cách hiệu quả, để tạo ra lời cao hơn mức phải trả lãi và trả gốc, thì vay là một việc làm khôn ngoan. Các khoản vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn dài có thể là nguồn vốn quan trọng cho phát triển. Vấn đề vẫn là ở chữ “nếu”, ở việc sử dụng vốn vay sao cho hiệu quả. Điều này đúng không chỉ với một người, một doanh nghiệp mà cả với một quốc gia. Đã vay là phải trả, đó là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên mức vay cũng bị giới hạn bởi nhiều nhân tố, trước hết phụ thuộc vào tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay và quy mô của nền kinh tế. Nếu vốn vay bị dùng sai mục đích hay kém hiệu quả thì những người cho vay sẽ không sẵn sàng để lại "chi tiền" tiếp. Người đi vay cũng không thể sử dụng được lượng vốn quá sức của mình. So với mức nợ nước ngoài an toàn trước kia là dưới 50% nay được khuyến cáo là dưới 40% GDP thì khả năng vay của Việt Nam không còn nhiều. Theo ông Lê Quốc Lý - Vụ trưởng Vụ Tài chính - Tiền tệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì bình quân nợ nước ngoài của Việt Nam trong 5 năm 2001-2005 là 35,6% GDP, và điều này càng làm cho việc sử dụng hiệu quả vốn vay thêm quan trọng.
Gần đây, Chính phủ đã có những biện pháp siết chặt quản lí để sử dụng hiệu quả hơn vốn vay. Chỉ nên dùng số tiền Nhà nước vay được để phát triển hạ tầng cơ sở (kể cả giáo dục, y tế, khoa học) mới là lựa chọn khôn ngoan. Nhà nước không nên vay giúp hay bảo lãnh cho bất cứ doanh nghiệp nào.
Khi bàn đến tính hiệu quả của các khoản đầu tư nhà nước, phải phân định rõ ai thi công, ai thực hiện các dự án đó. Trên lí thuyết, hiệu quả nhất, công bằng nhất có lẽ chủ đầu tư nên tổ chức đấu thầu công khai để chọn ra người thực hiện. Nhưng thực tế lại phức tạp hơn nhiều. Một mặt, các Ban quản lí dự án đại diện cho chủ đầu tư chưa hoạt động hữu hiệu, quy định quyền hạn, chức năng, trách nhiệm chưa rõ ràng, gây ra nhiều tổn thất và nhiều vấn đề nhức nhối mà điển hình là vụ PMU18. Còn bao nhiêu PMU như thế? Mặt khác, Nhà nước dành cho các doanh nghiệp quốc doanh nhiều ưu ái một cách công khai qua các quy định trong luật và trong chính sách, biến chúng thành các “công ty gia đình”, các công ty “ruột” của mình. Những công ty (hay lãnh đạo của các công ty) này lại có các “công ty gia đình” bậc hai, là các công ty tư nhân làm bên B’ hay B’’ cho các “công ty gia đình” cấp cao.
Không ai lạ gì tình trạng đấu thầu “công khai”, “minh bạch” với các công ty “quân xanh”, “quân đỏ” đã được dàn xếp sẵn từ trước. Cũng chẳng ai không biết về sự hoàn hành công khai (hay “kín đáo” hơn khi có động) của các loại công ty tay trong ở mọi nơi, mọi ngành. Làm sao có thể loại trừ hay hạn chế chúng? Không có một thứ thuốc tiên để trị căn bệnh rất gần với tham nhũng này. Các giải pháp cũng không có gì mới, lạ. Đó là có quy chế rõ ràng, phân trách nhiệm, quyền hạn rạch ròi, công khai, minh bạch và thực hiện tốt các nguyên tắc cai quản (governance) các công ty (tổ chức, Nhà nước).
Vay thì ắt phải trả. Nếu sử dụng hiệu quả và khôn khéo vốn vay (trong đó có vay ODA) thì đây là nguồn vốn quan trọng để phát triển đất nước.