Phải được coi là hoạt động thường xuyên, hằng ngày

Năm 2010, toàn tỉnh xảy ra 390 vụ tai nạn lao động làm 403 người bị nạn. So với năm 2009, số vụ tai nạn lao động tăng 20 vụ, tổng số người bị nạn tăng 21 người và số người chết tăng 10 người.

Trong 2 tháng đầu năm 2011, theo thống kế chưa đầy đủ của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, trên địa bàn xảy ra ít nhất 2 vụ tai nạn lao động chết người, làm chết 4 người, so với cùng kỳ tăng 2 người chết. Với con số nêu trên, Quảng Ninh được xếp vào 1 trong 10 tỉnh có số vụ tai nạn lao động chết người nhiều nhất. Vậy đâu là nguyên nhân và giải pháp cho thực tế đáng báo động này?

Phải được coi là hoạt động thường xuyên, hằng ngày ảnh 1
Bảo hộ lao động luôn được các đơn vị ngành Than chú trọng.

Nhìn từ những vụ tai nạn điển hình

Ca 2, ngày 13-8-2010, tại Công trường Khai thác 2, Công ty cổ phần Than Mông Dương - TKV, một nhóm công nhân gồm 7 người, được phó quản đốc Nguyễn Thanh Bình và lò trưởng Nguyễn Đức Thanh, giao nhiệm vụ chống và thay vì lò, tại lò thượng bán xiên thông gió mức +10 đến +30 vỉa G9, Vũ Môn. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, trong khi các công nhân đang làm việc thì lò bị tụt đổ, vùi lấp 4 người, 3 người còn lại đã thoát được ra ngoài. Tiếp đến ngày 11-1-2011, tại lò chợ mức từ +190 đến +251, vỉa 47 thuộc Công ty Than Hồng Thái, trong khi 3 công nhân đang tiến hành xả tải vì chống thuỷ lực để thu hồi vì chống thì đột ngột xảy ra sập cục bộ từ vì số 1 đến vì số 12 vùi lấp làm 3 công nhân tử vong. Cũng trong tháng 1-2011, tại khu vực sản xuất dăm mảnh Công ty TNHH sản xuất nguyên liệu giấy Việt Nhật - Cái Lân thuộc khu 1, phường Giếng Đáy (TP Hạ Long), chị Lăng Tú Liên, sinh năm 1977, trú tại tổ 5, khu 10, phường Bãi Cháy là công nhân của đơn vị đang làm nhiệm vụ nhặt gỗ đầu mẩu bị gàu máy xúc hiệu CAT do anh Phạm Văn Hiếu, sinh năm 1978, trú tại Mỹ Lộc, Thái Thụy, Thái Bình điều khiển va vào làm tử vong.

Đối với các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn tỉnh, mặc dù các chủ doanh nghiệp đã tiến hành trợ cấp, bồi thường cho gia đình nạn nhân theo đúng quy định. Thế nhưng các khoản tiền trợ cấp, bồi thường vẫn chỉ như muối bỏ bể, giải quyết tạm thời khó khăn về kinh tế, Hậu quả nặng nề để lại đè nặng trên đôi vai của những người thân và cả cộng đồng xã hội.

Nguyên nhân thực trạng

Phân tích nguyên nhân thực trạng này, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh cho rằng, Quảng Ninh là tỉnh có nhiều ngành công nghiệp nặng như khai thác than, đá, công nghiệp đóng tàu, sản xuất xi măng, sản xuất điện, xây dựng. Số lượng các doanh nghiệp nhỏ, các làng nghề, khu vực kinh tế hộ gia tăng trong khi trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu thiếu đồng bộ, vốn đầu tư ít. Theo đó, việc cải thiện điều kiện làm việc và thực hiện các chế độ chính sách về bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động, phòng, chống cháy nổ chưa được quan tâm đúng mức.

Mặt khác, nhận thức của người sử dụng lao động về vai trò của công tác bảo hộ lao động, an toàn, vệ sinh lao động, phòng, chống cháy nổ còn nhiều hạn chế. Một số doanh nghiệp, người sử dụng lao động không thực hiện huấn luyện an toàn vệ sinh lao động, khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, tình trạng vi phạm các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật ATVSLĐ diễn ra khá phổ biến là những nguyên nhân chính gây nên tai nạn lao động, sự cố cháy nổ. Tuy nhiên, chủ yếu vẫn do người sử dụng lao động.

Cũng theo phân tích này, năm 2010 và những tháng đầu năm 2011, các đơn vị thuộc ngành Than được cho rằng là đối tượng để xảy ra nhiều tai nạn lao động, chiếm 85,3% về số vụ và 87,5% về số người chết do tai nạn lao động trên địa bàn toàn tỉnh.

Biện pháp phòng ngừa

Những vụ việc đau lòng xảy ra cho thấy đã đến lúc các cơ quan chức năng, ban, ngành liên quan cần siết chặt hơn quản lý, đẩy mạnh công tác tuyên truyền ATVSLĐ, tạo sự chuyển biến trong nhận thức của chủ sử dụng lao động và người lao động. Trong đó cần đặc biệt chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về ATVSLĐ-PCCN ở tất cả cơ quan, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Đối với doanh nghiệp, phải lấy biện pháp phòng ngừa là chính, tăng cường công tác tự kiểm tra, kịp thời phát hiện và khắc phục những nguy cơ mất an toàn lao động. Đặc biệt, đối với những lao động làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại hoặc tiếp xúc với trang thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động phải thường xuyên tập huấn các quy định về bảo hộ lao động.

Chế tài xử phạt các vi phạm trong bảo đảm an toàn lao động cần được nghiên cứu, bổ sung để nâng cao tính răn đe đối với những cơ sở sản xuất kinh doanh vi phạm. Hiện, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực bảo hộ lao động, an toàn lao động khá đầy đủ, tuy nhiên do chế tài ràng buộc, xử lý chưa đủ mạnh không ít doanh nghiệp, người lao động cố tình bỏ qua.

Điều cốt yếu nhất là việc bảo đảm an toàn lao động đi vào thực chất, được coi là hoạt động thường xuyên, hằng ngày và trở thành một trong những điều kiện thiết thân để doanh nghiệp phát triển bền vững, duy trì lợi thế cạnh tranh thay vì chỉ là những hoạt động hưởng ứng theo kiểu “đến hẹn lại lên”, triển khai rầm rộ để báo cáo thành tích, hoặc đối phó sự kiểm tra của các cơ quan chức năng.

Cùng chuyên mục