Phải kết hợp nhiều biện pháp

Bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá trên cây lúa bùng phát và gây hại nặng khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ từ năm 2006 với diện tích hàng trăm nghìn ha, ảnh hưởng lớn tới năng suất và sản lượng lúa. Vụ mùa năm 2009, bệnh này đã bùng phát ở 18 tỉnh, thành phố phía Bắc với diện tích lớn.

Tại Quảng Ninh, trong vụ mùa năm 2009 đã có 20,5 ha lúa bị nhiễm với tỷ lệ hại phổ biến 5%, cao 10%, cá biệt 30% số dảnh và phân bố rải rác tại các địa phương trên địa bàn tỉnh. Trên cây ngô đông cũng đã có 6,7 ha có biểu hiện bệnh lùn sọc đen do một loại vi rút gây bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá gây hại.

Mặc dù diện tích và tỷ lệ hại của bệnh này trên địa bàn thời gian vừa qua thấp, chưa ảnh hưởng tới năng suất, sản lượng lúa, song đây là loại bệnh tiềm ẩn nguy hại. Cùng với đó, tỷ lệ rầy đã thu thập ở một số địa phương trong tỉnh mang nguồn bệnh cao (trên 50% số mẫu) cộng với khả năng di trú, xâm nhập của rầy mang nguồn bệnh từ tỉnh khác (hoặc từ Trung Quốc - nơi bệnh lùn sọc đen được phát hiện), trong thời gian tới khả năng xuất hiện bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá trên đồng ruộng tỉnh ta là rất cao và hoàn toàn có nguy cơ bùng phát thành dịch trên diện rộng nếu không có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu. Chi cục Bảo vệ thực vật Quảng Ninh (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh) đã đưa ra phương án phòng trừ tổng hợp rầy và bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá để các địa phương, bà con nông dân phòng trừ hiệu quả.

Theo thông báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tác nhân gây bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá do 3 loại vi rút: Vi rút vàng lùn - RGSV, vi rút lùn xoăn lá - RRSV và vi rút lùn sọc đen - RBSDV. Bệnh lan truyền trên đồng ruộng qua côn trùng môi giới là rầy nâu (truyền bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá); rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ (truyền bệnh lùn sọc đen trên lúa và ngô). Đây là những vi rút đặc biệt nguy hại với cây lúa, lần đầu bộc phát ở các tỉnh phía Bắc nhưng đã gây thiệt hại nặng trên 30 ngàn ha, trong đó có trên 11 ngàn ha mất trắng. Bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá và bệnh lùn sọc đen có triệu chứng giống nhau là: Cây lùn thấp, màu lá và thân xanh đậm hơn bình thường; xoắn lá và có u sưng trên lá; bị bệnh sớm cây thấp lùn, bị muộn cây phát triển bình thường nhưng không trỗ bông được, bệnh nặng lúa không trỗ, nghẹn đòng, hạt lép. Khác nhau giữa 2 loại bệnh: Bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá: Lá chuyển màu vàng nhạt, vàng cam và khô; lá vàng từ chóp lá và hai bên mép lá đi vào; góc lá xoè hơn so với bình thường; khi bị nặng sẽ làm cho cả bụi lúa chết; mép lá hình chữ V. Bệnh lùn sọc đen: Trên thân có các u sáp và sọc trắng; cây lúa không bị chết. Cây lúa non càng dễ nhiễm bệnh; cây lúa 10 ngày tuổi bị rầy truyền bệnh có thời gian ủ bệnh từ 7-14 ngày; cây lúa 20-25 ngày tuổi bị rầy truyền bệnh thì 20-25 ngày sau sẽ biểu hiện triệu chứng bệnh; cây lúa trên 55 ngày tuổi bị rầy truyền bệnh thường có triệu chứng ẩn, hoặc chỉ biểu hiện bệnh trên cây lúa chét. Lúa càng già thì càng ít mẫn cảm với bệnh.

Để phòng trừ bệnh hiệu quả, bà con nông dân cần thực hiện một số biện pháp kỹ thuật như sau: Cần kiểm tra xử lý nguồn bệnh trước khi gieo cấy vụ xuân 2010: Xử lý nguồn bệnh trên lúa hè thu và vụ mùa 2009 bằng cách vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ quanh bờ, ruộng, mương dẫn nước; cày bừa kỹ vùi lấp hết gốc rạ, lúa chết. Theo dõi, nhổ bỏ, tiêu huỷ những cây ngô đông bị bệnh, nhất là ngô trên đất 2 vụ lúa. Thu dọn hết lá ngô, vệ sinh đồng ruộng trước khi cấy. Kiểm tra, phát hiện và phun trừ kịp thời rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ trên ngô, lúa chét, bờ cỏ... để hạn chế nguồn môi giới truyền bệnh sang vụ Xuân 2010. Thiết lập hệ thống bẫy đèn tại địa phương để theo dõi sự di trú và xác định chính xác diễn biến của rầy từ đó xác định thời điểm xuống giống tránh rầy.

Trong giai đoạn mạ cần hạn chế diện tích gieo thẳng, gieo mạ cấy để bảo vệ tốt cây lúa giai đoạn đầu; gieo tập trung và thực hiện đúng lịch thời vụ; thực hiện che phủ nilon trên toàn bộ diện tích mạ vụ xuân để vừa ngăn chặn sự xâm nhập, tiếp xúc của rầy đối với mạ và chống rét cho mạ. Trong điều kiện nhiệt độ không khí cao có thể mở che phủ vào ban ngày nhưng phải phủ lại trước 17 giờ hàng ngày; đầu tư thâm canh cân đối ngay từ thời kỳ mạ để mạ phát triển khoẻ, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh; không sử dụng mạ tại các ruộng mạ bị bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá gây hại nặng để cấy, đồng thời phun thuốc diệt trừ rầy và tiêu huỷ ngay những diện tích này; khuyến khích việc xử lý hạt giống bằng Cruiser plus 312,5 FS hoặc Gaucho 600 FS theo hướng dẫn của nhà sản xuất và cơ quan bảo vệ thực vật.

Giai đoạn từ cấy đến làm đòng (khoảng 60 ngày kể từ lúc gieo mạ): Làm đất ruộng cấy kỹ; bón phân cân đối, tăng cường lượng phân hữu cơ, lân và kali, bón lót 400-500 kg vôi bột/ha. Khi ruộng có biểu hiện bệnh tuyệt đối không dùng phân đạm để bón thúc; trên một xứ đồng tập trung cấy trong 2-3 ngày, không kéo dài thời gian cấy; cấy đúng mật độ; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện và phun trừ rầy kịp thời bằng thuốc nội hấp. Nếu mật độ rầy cao phải phối hợp thuốc nội hấp và thuốc tiếp xúc Bassa 50 EC. Các giai đoạn tiếp theo cần thực hiện chăm sóc tưới, tiêu hợp lý để cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh.

Các loại thuốc hoá học trừ rầy - môi giới truyền bệnh: Thuốc hoá học xử lý giống như Cruiser Plus 312,5 FS dùng 50ml/100kg hạt; thuốc Gaucho 600 FS dùng 40ml/100 kg hạt; một số loại thuốc nội hấp nhóm Neonicotinoid với hoạt chất Thiamethoxan; thuốc tiếp xúc nhóm Carbamat; hoạt chất Buprofezin.

Ngoài việc tập trung phòng trừ rầy và bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá trong vụ xuân 2010 cần theo dõi, phòng trừ kịp thời, hiệu quả các loại sâu bệnh hại khác như: Đạo ôn, sâu cuốn lá nhỏ, nhện gié, bệnh lem lép hạt...

Cùng chuyên mục