Việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý tại một số sở, ban, ngành trong tỉnh đã được đưa vào từ lâu nhằm phục vụ nhu cầu cung cấp thông tin, hình thành hệ thống bản đồ dữ liệu riêng cho từng lĩnh vực.
Tuy nhiên, với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ cũng như những thay đổi trong quá trình hình thành, phát triển riêng biệt của các lĩnh vực có sử dụng đến bản đồ thông tin thì những ứng dụng công nghệ này hiện phát triển chưa đúng tầm. Theo đánh giá của các cơ quan chức năng thì Quảng Ninh chưa có một hệ thông tin địa lý (gis) nào được đầu tư đồng bộ để đưa vào vận hành khai thác hiệu quả.
Cần phải khẳng định rằng, kho thông tin tư liệu bản đồ hiện đang có tại các đơn vị Nhà nước trên địa bàn tỉnh khá đa dạng và phong phú. Đây là tiền đề thuận lợi cho việc hình thành hệ thống gis nói chung. Dữ liệu bản đồ được chia làm 2 loại cơ bản. Đó là bản đồ địa hình và bản đồ chuyên đề. Các loại bản đồ này được lưu trữ tập trung tại Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) hoặc được quản lý tại các sở, ban ngành riêng rẽ dưới 2 hình thức chính là lưu trữ trên máy tính và bản đồ giấy. Trong đó, phần lưu trữ trên giấy vẫn là chủ yếu. Tuy nhiên, qua tìm hiểu được biết, các dữ liệu bản đồ trên giấy hiện nay tại các sở, ban, ngành, đa phần đã thành lập trong thời gian từ 5 đến 7 năm trước đây. Do vậy, nhiều yếu tố nội dung bản đồ đã sai khác so với ngoài thực tế. Trong khi đó, các ứng dụng công nghệ để lưu trữ, cập nhật thông tin về bản đồ địa lý tại một số đơn vị thì mới dừng ở mức thử nghiệm đối với một công việc cụ thể và chủ yếu thực hiện trên các máy trạm mà chưa mang tính toàn diện tổng thể. Chính vì vậy, việc chia sẻ tài liệu, dữ liệu giữa các cơ quan đơn vị khác nhau nói chung gặp nhiều khó khăn. Việc liên kết, trao đổi dữ liệu giữa các lĩnh vực, các cơ quan chưa được thực hiện một cách đồng bộ. Khi một sở, ngành này cần cập nhật nguồn thông tin địa lý thuộc một đơn vị khác thì cũng không thể tiến hành nhanh chóng được. Một ví dụ điển hình là Sở TN&MT. Đơn vị này hiện đang nắm giữ khá nhiều các loại thông tin tư liệu về bản đồ phục vụ công tác chuyên môn. Theo ước tính, số bản đồ giấy tại Sở này có thể lên đến hàng nghìn bản đồ chia theo các lĩnh vực. Để thay đổi điều này, từ nhiều năm nay, Sở TN&MT đã tích cực cập nhật nhiều ứng dụng CNTT liên quan đến lưu trữ, cập nhật bản đồ; sử dụng các phần mềm quản lý thông tin địa lý như famis, microstation, arc gis, mapinfo... Theo đồng chí Phạm Văn Cường, Trưởng Phòng Đo đạc bản đồ, Sở TN&MT: Việc ứng dụng các phần mềm mới vào công tác quản lý, cập nhật dữ liệu bản đồ trên máy tính đã được thực hiện tại Sở từ năm 2000 và đã cho những kết quả rất tốt. Việc theo dõi, cập nhật, đối chiếu tư liệu trên bản đồ trở nên đơn giản và thuận tiện hơn. Qua đó, anh em làm việc nhanh chóng và hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay số lượng bản đồ giấy lưu trữ tại Sở vẫn còn khá nhiều, khoảng 7.000 bản đồ các loại. Việc lưu trữ bản đồ giấy hết sức khó khăn, do diện tích các kho để bản đồ có hạn, trong khi việc bảo quản loại bản đồ giấy không dễ dàng do giấy là vật liệu dễ rách, dễ cháy, dễ mủn...
Có thể thấy, việc đầu tư nâng cấp hệ thống phục vụ mạng lưới thông tin địa lý chung trên địa bàn là cần thiết để phục vụ chính công tác quản lý cho nhiều sở, ngành. Điều này cũng phù hợp với tiến trình đưa CNTT vào sâu rộng trong công tác quản lý nhà nước mà tỉnh đã đề ra trong những năm gần đây. Được biết, trong năm 2009, Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Hội đồng Khoa học và Công nghệ chuyên ngành đánh giá nghiệm thu đề tài khoa học “Điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp xây dựng cơ sở dữ liệu gis của tỉnh Quảng Ninh”. Theo đó, các tác giả đã đề xuất được giải pháp xây dựng Atlas điện tử tỉnh Quảng Ninh bao gồm: Xây dựng cơ sở dữ liệu nền địa lý dùng chung toàn tỉnh ở các tỷ lệ 1/10.000 cho khu vực trung du và ven biển; tỷ lệ 1/25.000, 1/50.000 và tỷ lệ 1/100.000 toàn tỉnh Quảng Ninh; xây dựng bộ phận quản lý hệ thống thông tin địa lý; xây dựng Atlas điện tử tỉnh Quảng Ninh phát hành trên Internet và xây dựng cơ sở dữ liệu GIS chuyên ngành. Đồng thời cũng đã lựa chọn mô hình tập trung với công nghệ của ESRI để xây dựng cơ sở dữ liệu GIS Quảng Ninh.
Hy vọng, khi đề tài được triển khai vào thực tiễn sẽ cải thiện đáng kể thực trạng thiếu thông tin trao đổi về các loại bản đồ địa lý giữa các sở, ngành, đơn vị như hiện nay.