Sau 60 năm xa cách, nhạc Phạm Duy trở lại trong một đêm diễn duy nhất mang tên “Ngày trở về” ở Hà Nội. Năm nay 89 tuổi, nhạc sĩ nổi tiếng này vẫn tỏ ra sắc sảo và dồi dào năng lượng. Hỏi ông đang làm gì, ông tự trào: “Tôi chỉ làm thinh”.
- Cảm xúc của “Ngày trở về” này của ông có gì đặc biệt?
- Tôi không bao giờ ngờ mình còn sống được đến ngày hôm nay. Trở về cũng là điều muôn thuở của con người bởi lẽ lá rụng về cội. Chương trình Ngày trở về ở Hà Nội lần này gồm tất cả những gì khái quát nhất về con người “ca nhân” của Phạm Duy: mảng ca khúc kháng chiến, tình ca quê hương và nhạc tình.
Tôi thật sự chẳng muốn phải đi đi về về thế này. Khi trở về lần đầu, tôi rất cảm động nhưng không quá mức thống thiết. Vì tôi là người luôn cân bằng và cũng đã từng trải nhiều, nhất là qua những thời đoạn bất bình thường của đời sống chiến tranh trên đất nước mình.
- Ông sinh ra, trưởng thành và đến với âm nhạc cũng từ Hà Nội, Hà Nội có đủ gây cảm hứng cho ông sáng tác những bài hát về nơi này, như nhiều nhạc sĩ khác không?
- Thuở bé, nhà tôi chỉ cách hồ Hoàn Kiếm có 150m. Ấn tượng sâu đậm lắm nên một trong những bài hát đầu tiên tôi làm khi ấy là bài “Gươm tráng sĩ”, xưng tụng thần Kim Quy trong câu chuyện đòi gươm của vua Lê.
Sau này trong trường ca Con đường cái quan, tôi có viết loáng thoáng, từ Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mâu, qua Hà Nội, im nghe lời Thủ đô chào… Từ khi trở về Việt Nam, tôi có phổ thơ một nữ thi sĩ thành bài Nhớ mùa xuân Hà Nội nhưng thú thực đó cũng không phải là bài đắc ý lắm.
- Nói ngắn gọn về các dòng nhạc mà ông theo đuổi thì ông sẽ nói gì?
- Ba loại nhạc của tôi gồm nhạc tình cảm, là nhạc miêu tả mối quan hệ giữa con người với con người, thời chiến tranh loạn lạc, tôi chủ trương làm nhạc xã hội, trong những lời lẽ hào hùng, còn có khía cạnh đau thương, cái mất mát của con người, là loại nhạc nói về quan hệ giữa con người với xã hội.
Còn bây giờ về già, tôi làm nhạc tâm linh, là mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, siêu nhiên và thần thánh. Có lẽ vì thế người ta vẫn cho rằng tôi tham lam hơn các nhạc sĩ khác, cái gì tôi cũng làm.
- Thưa ông, ca từ của ông có những nét khác lạ, cách dùng từ độc đáo, chẳng hạn diễn tả “yêu em tấm áo thô sơ” trong bài Vợ chồng quê, thay vì nói “đơn sơ”. Ông viết lời có dễ dàng không?
- Tôi rất thích câu hỏi này! Các ông nhạc sĩ là hay phóng đại, nên viết gì cũng bóng bẩy, càng bí hiểm càng thích. Có lẽ tôi được hấp thụ được đời sống văn hóa nơi thôn ổ, nên tôi ưa những cách nói năng hàng ngày để làm cho việc viết ca từ thành hết sức bình thường, giản dị. Văn chương của các ông Thế Lữ, Nhất Linh dù hay, viết về thôn quê vẫn hết sức thị thành.
- Ông cảm nhận thế nào về hai thế hệ hát nhạc của ông, những ca sĩ lớp trước và bây giờ?
- Theo tôi thì mỗi một thời đại có một tinh hoa riêng, có gu thẩm mỹ khác nhau, rồi mỗi ca sĩ lại có cá tính riêng, “bà” Mỹ Linh hay “ông” Đức Tuấn hát có kiểu của họ. Gần đây cũng mới có Đức Tuấn và Thanh Thúy có làm đĩa riêng bài của tôi. Có lẽ các ca sĩ trẻ chưa có nhiều thời gian. Hi vọng là trong thời gian tới sẽ khác đi.
- Tôi nghĩ là không khó hát và khó hiểu lắm đâu, trừ một vài bài thôi. Ví dụ tôi có bài Cái võng, đại ý nói cái võng đưa tôi đi khắp nơi, lên cao xuống thấp, thiên đường là kia, hạ giới là đây, nhưng rồi tôi vẫn là tôi. Rất đơn giản và dễ hát.
Tôi đang viết dở Kiều ca, đến đoạn Kiều gặp Từ Hải. Có người hỏi tôi đấy là tâm sự của Kiều hay tâm sự Phạm Duy, tôi xin trả lời đấy là cả hai, là cuộc đời trôi nổi lưu lạc. Tuy nhiên tôi không phải là ông Nguyễn Du.
Tôi luôn quan niệm là người Việt Nam thì phải đi tìm “nhạc liệu” của Việt Nam. Mặc dù tôi có được đi du học ở Pháp hai năm, nhưng chỉ là học lề lối soạn nhạc mà thôi.
- Hiện nay, dư luận tranh cãi về ca từ, có những bài hát lời lẽ đơn giản, ngô nghê đến mức tự nhiên chủ nghĩa. Vậy theo ông, đâu là ranh giới giữa giản dị và dễ dãi trong ca từ?
- Phải tự hỏi là tại sao những loại nhạc mà ca từ còn “chông chênh” như thế vẫn có đất sống? Vì người nghe quá dễ dãi. Phản ứng của tôi là làm cái hay hơn. Tôi tìm đến nhạc tâm linh, vì đời sống tâm linh bị thiếu sót. Nhạc của Bach, Beethoven, hay Mozart, cũng xuất xứ từ nhạc nhà thờ mà ra.
- Một đêm duy nhất ở Hà Nội có là quá ít đối với ông?
- Ồ, làm vừa vừa thôi. Một đêm là đủ rồi. Còn nhiều hơn thì phải hỏi công ty Phương Nam đây ạ.
- Ông có muốn về sống ở Hà Nội cuối đời không?
- Tôi muốn lắm chứ. Nhưng xét lại thì tôi chỉ ở Hà Nội có 17, 18 năm, rồi tôi vào miền Nam ở 25 năm, vậy mà sống ở Mỹ đến 30 năm. Thành ra nhiều khi đúng là cái số phải truân chuyên thế.
- Thưa ông, con đường sáng tác của ông trải qua nhiều giai đoạn, vậy ông có biến đổi gì không?
- Xin thưa là con người Phạm Duy không biến đổi một tí nào.
- Nếu cần đính chính, ông sẽ đính chính điều gì trước chương trình lần này ở Nhà hát Lớn Hà Nội?
- Tôi không muốn bị coi là người kiêu hãnh, nhưng đây chỉ là một chương trình nghệ thuật, nên không có gì để thanh minh cả. Tôi vẫn là người “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”, đến giờ vẫn chưa thoát được những nỗi buồn cố hữu. Mà làm sao chối bỏ được? Cảnh li tán, cả triệu người ra đi, sang Mỹ thì bơ vơ, buồn lắm. Dù sao tôi cũng may mắn là người nghệ sĩ nói được những gì mình muốn nói.
- Xin cảm ơn ông và chúc Ngày trở về của ông là một ngày hạnh phúc.