Phát triển dịch vụ từ chiến lược “đi trước, đón đầu”

Đẩy mạnh phát triển dịch vụ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được ngành Ngân hàng triển khai thực hiện tốt trong nhiều năm qua. Với cách làm bài bản, ngành Ngân hàng đã đề ra chiến lược phát triển dịch vụ giai đoạn 2006-2010 theo hướng “đi trước, đón đầu”. Đây thực sự là đơn vị tiêu biểu trong việc triển khai hiệu quả Nghị quyết 21/NQ-TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ.

* Mạng lưới rộng mở, huy động vốn cao, tín dụng đảm bảo

Với lợi thế là một tỉnh phát triển, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Quảng Ninh thực sự là địa bàn lý tưởng cho hoạt động ngân hàng. Nhìn vào bức tranh tổng thể của hệ thống ngân hàng được phát triển trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua cho thấy sự đa dạng, phong phú. Hệ thống mạng lưới ngân hàng ở Quảng Ninh hiện nay không chỉ đảm bảo mở rộng về số lượng, cơ cấu loại hình mà còn đa dạng về thành phần. Do vậy, đã tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các đơn vị ngân hàng, đồng thời đủ sức đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Ninh, tính đến hết tháng 4-2009, hệ thống tổ chức mạng lưới ngân hàng trên địa bàn tỉnh gồm 55 Chi nhánh Ngân hàng thương mại (NHTM), tăng 62% so với năm 2004. Trong đó, có 33 Chi nhánh NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần có 22 Chi nhánh, gấp 11 lần so với 5 năm trước. Đáng chú ý là sự góp mặt của 184 máy giao dịch tự động (ATM) và 132 Phòng Giao dịch, Quỹ tiết kiệm. Riêng chỉ tiêu này tăng 4,3 lần so với trước khi có Nghị quyết 21. Bên cạnh đó, Quảng Ninh hiện có 1 Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội với 14 Phòng Giao dịch đặt tại 14 địa phương trong tỉnh; 2 Chi nhánh của tổ chức tín dụng phi ngân hàng, 1 Quỹ tín dụng nhân dân. Đi đôi với mở rộng mạng lưới, đội ngũ CBCNVC - LĐ trong ngành Ngân hàng cũng tăng 72% so với thời điểm trước khi có Nghị quyết 21. Điều đáng chú ý là đội ngũ nguồn nhân lực về cơ bản đáp ứng được các yêu cầu của ngành trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Bên cạnh việc phát triển tổ chức, ngành Ngân hàng đã làm tốt dịch vụ huy động vốn. Với sự chủ động, linh hoạt các nguồn vốn tại chỗ, đặc biệt là vốn trong dân cư đã được tận dụng, huy động tối đa. Một yếu tố quan trọng, được xem như “chìa khoá” mở cánh cửa của lĩnh vực này chính là việc các ngân hàng tăng cường đổi mới công nghệ, phát triển nhiều sản phẩm tiện ích, hiện đại với chất lượng cao, chi phí rẻ kết hợp cùng sản phẩm dịch vụ truyền thống. Nhờ đó, các ngân hàng “hút’ được lượng vốn lớn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Tại thời điểm 30-4-2009, tổng nguồn vốn hoạt động của các ngân hàng đạt 28.989 tỷ đồng, tăng 415% so với năm 2004 và bằng 166% so với kế hoạch định hướng đến năm 2010. Cơ cấu vốn huy động tại địa phương có sự dịch chuyển tích cực. Vốn huy động bằng VND chiếm tỷ trọng 88-90%. Vốn huy động trong khu vực dân cư chiếm 70-75%. Vốn trung, dài hạn chiếm 30-40%. Nhờ làm tốt công tác này, các ngân hàng đều chủ động trong kinh doanh, đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vốn tín dụng và đảm bảo khả năng thanh toán cho nền kinh tế.

Bám sát chủ trương của Nghị quyết 21, cùng với sự nhanh nhạy của chính mình, 5 năm qua, hoạt động tín dụng của các ngân hàng luôn “đồng hành” cùng định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và tình hình sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế. Tính đến 30-4-2009, tỷ trọng dư nợ cho vay các ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 52,2%; các ngành dịch vụ, du lịch chiếm 41%. Cho vay đối với kinh tế nhà nước chiếm 40,5%; cho vay kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 59,5% tổng dư nợ. Cùng với việc mở rộng tín dụng thương mại, tín dụng chính sách được các ngân hàng quan tâm chú trọng. Dư nợ tín dụng ưu đãi tính đến 30-4-2009 là 917 tỷ đồng, tăng gấp 4,2 lần so với năm 2004 đã góp phần thực hiện tốt chương trình xoá đói, giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội của tỉnh. Đi đôi với việc nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ cho vay như cho vay hợp vốn, đồng tài trợ, uỷ thác đầu tư các ngân hàng tiếp tục mở rộng các sản phẩm dịch vụ cấp tín dụng khác như chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh... Dư nợ cho vay phục vụ phát triển kinh tế - xã hội hàng năm tăng cao. Đến 30-4-2009, tổng dư nợ đạt 23.324 tỷ, tăng 287% so với năm 2004, bằng 156% so với kế hoạch giai đoạn 2005-2010. Tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 39,1%/năm.

* Dịch vụ thanh toán, ngân quỹ an toàn, hiệu quả

Đến nay, hầu hết các ngân hàng trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành chương trình hiện đại hoá công nghệ, nhiều công nghệ được ứng dụng mạnh mẽ như ngân hàng bán lẻ, giao dịch trực tuyến... nổi bật nhất là lĩnh vực thanh toán vốn. Doanh số thanh toán qua ngân hàng tăng cao hàng năm, năm 2008 đạt 415.059 tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân hàng năm (giai đoạn 2005-2008) đạt 45,9% và bằng 153% so với kế hoạch phát triển dịch vụ của ngành. Thanh toán quốc tế (bao gồm thanh toán theo thông lệ quốc tế và thanh toán biên mậu với Trung Quốc) năm 2008 đạt 2.690 triệu USD, tốc độ tăng bình quân đạt 35,4%/năm và bằng 126,5% so với kế hoạch giai đoạn 2005-2010. Có thể khẳng định, dịch vụ thanh toán qua ngân hàng ngày càng hoàn thiện, đa dạng và phong phú với các sản phẩm hiện đại, an toàn từng bước phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Dịch vụ thanh toán được các ngân hàng kết hợp với các dịch vụ ngân hàng, tài chính khác nên đã khuyến khích được nhiều tổ chức, cá nhân sử dụng, từng bước giảm tỷ trọng và thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán, tiết kiệm chi phí toàn xã hội.

Tính đến 30-4-2009, các NHTM đã đăng ký lắp đặt 184 máy ATM, 318 máy POS (máy thanh toán thẻ) và 237 điểm chấp nhận thanh toán thẻ. Việc phát hành thẻ cũng như tăng tính năng, tiện ích và chất lượng của hệ thống giao dịch tự động, giao dịch điện tử ngày càng được chú trọng, đẩy mạnh. Tổng số tài khoản cá nhân đã mở tại các ngân hàng là 285.332 tài khoản. Số lượng thẻ đã phát hành là 284.027 thẻ, tăng gấp 6 lần so với năm 2004.

Về dịch vụ ngân quỹ, doanh số thu - chi tiền mặt qua ngân hàng tiếp tục tăng cao qua các năm. Mức tăng bình quân 5 năm (2004-2008) đạt 43%/năm. Các ngân hàng đã chủ động xây dựng kế hoạch nên việc tổ chức điều hoà, cung ứng, thu - chi tiền mặt luôn thực hiện kịp thời, đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn bằng tiền mặt trong nền kinh tế. Các ngân hàng chấp hành nghiêm túc chế độ an toàn kho quỹ, triển khai tốt dịch vụ ngân quỹ. Bên cạnh đó, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ có bước phát triển với doanh số mua bán hàng năm tăng cao. Năm 2008, doanh số mua bán đạt 2.991 triệu USD, tăng gấp 9,2 lần so với năm 2004; chi trả kiều hối đạt 45,2 triệu USD, tăng 7,3 lần so với năm 2004. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng không chỉ đáp ứng được nhu cầu của các tổ chức, cá nhân mà còn phục vụ đắc lực cho hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh.

Với việc thực hiện tốt Nghị quyết 21, ngành Ngân hàng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế, phục vụ và đóng góp không nhỏ vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm qua.

Cùng chuyên mục