Với con mắt ''nhìn xa, trông rộng'', từ đầu năm 2000, chiến lược ''đánh thức'' các tiềm năng, thế mạnh du lịch Quảng Ninh đã được các cấp lãnh đạo tỉnh hoạch định với những quyết sách cụ thể, sát thực.
Một trong những quyết sách ấy chính là Nghị quyết 08 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về ''đổi mới và phát triển du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2001-2010'' (ban hành ngày 30-11-2001). Qua nửa chặng đường triển khai thực hiện cho thấy, Nghị quyết 08 thực sự trở thành ''đòn bẩy'' hiệu quả với sự phát triển lớn mạnh của du lịch Quảng Ninh hôm nay.
Trước hết, cần khẳng định rằng, sức sống của Nghị quyết 08 được tạo dựng từ chính tinh thần quán triệt nghiêm túc của các cấp chính quyền, ban, ngành và mọi người dân. Ngay sau khi Nghị quyết ban hành, UBND tỉnh có kế hoạch (số 309/KH-UB) triển khai, phân công nhiệm vụ cụ thể. Cơ sở hành lang pháp lý cho hoạt động du lịch được tăng cường, cụ thể như việc phê duyệt tổng thể quy hoạch phát triển du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2001- 2010, thành lập quỹ quảng bá xúc tiến du lịch, bộ máy quản lý nhà nước về du lịch được củng cố... Nhiều quy chế quản lý từng lĩnh vực trong hoạt động du lịch được ban hành như quản lý bãi tắm, quản lý hoạt động tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long, hoạt động lữ hành khách du lịch Trung Quốc... được ban hành. Trong quá trình triển khai, từng giai đoạn, UBND tỉnh đều có sơ kết đánh giá. Thông qua đó, những nội dung không còn phù hợp trong tình hình mới được điều chỉnh kịp thời, sát thực. Chính vì vậy, Nghị quyết 08 đã thực sự đi vào cuộc sống.
Theo số liệu thống kê của Sở Du lịch, trong 6 năm qua (2001-2006), về chỉ tiêu khách du lịch đạt tốc độ tăng bình quân 14%/năm; trong đó, khách quốc tế đạt tốc độ tăng bình quân 13%/năm. Nếu như năm 2001, tổng lượt khách đến Quảng Ninh mới chỉ đạt 1,9 triệu thì năm 2006 đã vượt qua mốc 3 triệu. Riêng7 tháng đầu năm 2007, lượng khách tăng 35% so với cùng kỳ năm 2006. Tổng doanh thu du lịch năm 2001 là 468 tỷ đồng thì năm 2006 là 1.269 tỷ đồng; tốc độ tăng bình quân trong 6 năm là 27%. Chỉ số trên cho thấy, tốc độ tăng doanh thu nhanh hơn và cao hơn so với chỉ số tăng về khách du lịch. Đây là một sự chuyển biến đáng mừng về chất lượng. Nói rõ thêm về điều này, bà Phùng Thị Sáu, trưởng Phòng Nghiệp vụ, Sở Du lịch Quảng Ninh khẳng định, các sản phẩm du lịch được đầu tư với quy mô lớn, có tính chuyên nghiệp như các dịch vụ vui chơi giải trí ở Khu Du lịch Tuần Châu, Hoàng Gia (TP Hạ Long), Lợi Lai (TX Móng Cái); các đội tàu chở khách tham quan Vịnh, hệ thống cơ sở lưu trú chất lượng cao... ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch có khả năng chi tiêu cao tạo ra nguồn thu lớn. Các khoản thu nộp ngân sách từ hoạt động du lịch như thuế, phí xuất nhập cảnh, lệ phí tham quan Vịnh Hạ Long... đều tăng trưởng khá. Giá trị tăng thêm của các hoạt động kinh doanh du lịch năm 2001 chiếm tỷ trọng 2,4% trong tổng GDP toàn tỉnh, đến năm 2006 đã tăng lên 4,16% (nguồn số liệu của Cục thống kê Quảng Ninh). Hoạt động du lịch đã tác động mạnh đến các ngành kinh tế khác.
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2001-2010, toàn tỉnh đã hình thành 4 trung tâm du lịch gồm: Hạ Long, Móng Cái - Trà Cổ, Vân Đồn và Uông Bí - Đông Triều - Yên Hưng. Đến nay, tỉnh đã phê duyệt quy hoạch chi tiết phát triển du lịch của TX Móng Cái, TX Uông Bí, TP Hạ Long. Đặc biệt, sự ra đời của Khu kinh tế Vân Đồn với hạt nhân là du lịch sinh thái biển sẽ tạo ra một diện mạo mới cho du lịch Quảng Ninh.
Từ năm 2001 đến nay, cơ sở hạ tầng du lịch đã được nâng lên một bước đáng kể, Nhiều tuyến đường, cây cầu quan trọng đã hoàn thành như đường 18A đoạn từ Hạ Long đi Cửa Ông, đoạn Mông Dương đi Móng Cái, cầu Bãi Cháy, cầu Vân Đồn, cầu Bang... đã tạo điều kiện thuận lợi và mở ra triển vọng mới đối với sự phát triển của ngành công nghiệp ''không khói'' của Quảng Ninh. Hoạt động du lịch đã thu hút nguồn lực đầu tư lớn đạt và vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Tỉnh đã đầu tư và thu hút đầu tư trên 40 dự án phát triển du lịch và dịch vụ với tổng vốn đăng ký đạt 10.500 tỷ đồng. Trong đó, có 19 dự án đầu tư hạ tầng các khu du lịch với tổng mức đầu tư được duyệt bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước khoảng 643 tỷ đồng, đến năm 2006 đã thực hiện 220 tỷ đồng; 21 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký khoảng 3.199 tỷ đồng. Các doanh nghiệp và kinh doanh đầu tư dịch vụ cơ sở lưu trú và các dự án vui chơi giải trí khoảng 6.658 tỷ đồng. Các dự án đầu tư về hạ tầng du lịch bằng nguồn vốn chương trình hành động quốc gia được đầu tư đúng hướng, đúng quy hoạch nên đã phát huy hiệu quả như dự án đường du lịch đảo Ngọc Vừng, nâng cấp tuyến đường du lịch Dốc Đỏ - Yên Tử...
Kết quả nổi bật trong 6 năm qua chính là lĩnh vực phát triển cơ sở lưu trú. Tính đến cuối năm 2006, toàn tỉnh đã có 902 cơ sở lưu trú với tổng số 12.380 phòng, trong đó có 75 khách sạn được xếp từ 1 đến 4 sao. Đây cũng là chỉ tiêu vượt đích so với Nghị quyết. Theo Nghị quyết 08 đề ra, đến cuối năm 2010 sẽ có 9.000 phòng. Dịch vụ tàu lưu trú nghỉ đêm trên Vịnh đã trở thành thế mạnh độc đáo của du lịch Quảng Ninh cũng đang phát triển mạnh, theo hướng chất lượng cao. Năm 2002, toàn tỉnh chỉ có 16 tàu với 134 phòng đến nay đã có 90 tàu với 680 phòng, chất lượng tương đương 3 đến 4 sao. Đa số cơ sở lưu trú được đầu tư mới trong những năm gần đây đều có qui mô lớn chất lượng dịch vụ, công suất sử dụng buồng phòng cao. Xu thế này đã góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng tăng trưởng. Các dịch vụ vận chuyển khách du lịch, đặc biệt là tàu chở khách thăm Vịnh Hạ Long đã phát triển thành một sản phẩm du lịch đặc trưng của Quảng Ninh. Năm 2001, toàn tỉnh có 251 tàu vận chuyển khách thăm Vịnh với 8.084 chỗ, đến năm 2006 có 370 tàu với 14.352 chỗ. Hiện nay, có 334 tàu được xếp hạng gồm: 61 tàu 3 sao, 62 tàu 2 sao, 102 tàu 1 sao và 109 tàu đạt tiêu chuẩn. Tốc độ đầu tư tàu thuyền vận chuyển khách tham quan Vịnh tăng bình quân 9%/năm, vốn đầu tư trong 6 năm đạt khoảng 900 tỷ đồng. Đáp ứng yêu cầu phục vụ du lịch, hệ thống các dịch vụ như bưu điện, ngân hàng, cung ứng tàu biển, thương mại... cũng phát triển với tốc độ nhanh, tạo sự đồng bộ về cơ sở vật chất phục vụ du lịch.
Một điểm đáng chú ý đó là việc thu hút lao động, trong 6 năm qua (2001-2006) đã thu hút thêm khoảng 8.500 lao động trực tiếp, cơ bản đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Công tác quản lý nhà nước về du lịch được chú trọng thực hiện ở 5 lĩnh vực cơ bản. Đó là, nâng cao hiệu quả hoạt động của Sở Du lịch là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn; tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến và tổ chức các sự kiện du lịch; tập trung đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo đáp ứng yêu cầu công việc; từng bước đổi mới, sắp xếp các doanh nghiệp, siết chặt quản lý hoạt động du lịch; quan tâm đầu tư công tác bảo vệ môi trường.
Nhìn lại chặng đường 6 năm qua cho thấy, diện mạo, vị thế du lịch Quảng Ninh thực sự được nâng lên ở một tầm cao mới, xứng đáng trở thành một trung tâm du lịch lớn của cả nước trong tương lai. Điều này càng góp phần khẳng định sự đúng đắn và tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII với mục tiêu “phấn đấu đưa Quảng Ninh trở thành một trung tâm du lịch có đẳng cấp ở châu lục vào năm 2015''.