Phim nhập không giới hạn - điều gì sẽ xảy ra?

Theo lộ trình thực hiện cam kết gia nhập WTO, thì việc xoá bỏ hạn ngạch nhập phim nước ngoài vào VN là một tất yếu. Nhưng khi VN chưa có thị trường phim, khi tỉ lệ 20% phim nội như Luật Điện ảnh quy định vẫn thuộc về "tương lai", điều gì sẽ xảy ra và ngành điện ảnh chuẩn bị ứng phó như thế nào?

Đơn vị nhà nước: Không "mặn mà"

Ông Lê Đức Tiến - GĐ Hãng Phim truyện VN - nói: "Muốn nhập phim ngoại, phải có rạp chiếu. Trong đăng ký kinh doanh của hãng không có nhập phim. Vả lại nhập phim bán cho ai, làm sao thu hồi vốn; khi một phim giá mua lên tới mấy trăm ngàn USD. Chính sách thuế đánh vào phim ngoại theo tôi phải tăng lên, trong khi với phim nội nên miễn thuế để bảo hộ điện ảnh nước nhà".

Ông Phạm Văn Hoạ - Phó GĐ Cty xuất nhập khẩu phát hành phim VN (Fafilm) - cho hay: "Nếu trước đây vào thời còn độc quyền, Cty nhập mỗi năm 50-60 phim, sau đến thời từ bao cấp sang xã hội hóa điện ảnh (năm 2000-2004), Cty nhập khoảng 20 phim. Sau đó, khi Megastar, Galaxy với ưu thế rạp, tiền vốn tham gia thị trường thì số phim nhập Cty chỉ còn 3-4 phim/năm; mà không lãi, khi doanh thu mỗi phim chỉ từ 500-700 triệu VND, trong khi mỗi phim mua bản quyền giá từ 40.000-50.000USD.

Mặc dù Fafilm có một số rạp ở HN, Đà Nẵng, TPHCM và mới đây còn liên kết với Cty liên doanh Lotte Cinema VN để mở thêm rạp thì nguồn phim vẫn gặp nhiều khó khăn, khi quan hệ không đủ rộng để mua phim ngoại theo cơ chế "ăn chia" (trả tiền sau)".

Hãng phim Giải Phóng (TPHCM) trước đây có nhập phim Mỹ "Người Mỹ trầm lặng" (từ năm 1997) về chiếu ở rạp Cinebox của hãng, nhưng cũng không có lãi, sau cho Galaxy dùng tư cách pháp nhân để nhập "Titanic" và sau đó thì im ắng từ đó đến nay.

Rõ ràng trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt hiện nay, các hãng phim nhà nước không có nhiều cửa cạnh tranh với tư nhân, nhất là các đại gia như Megastar, Galaxy.

Không hạn ngạch, thả nổi hay định hướng phim?

Việc bỏ hạn ngạch phim, gần như song song "cung" đủ "cầu" đối với khán giả, chắc chắn số lượng nhập vào VN trong tương lai tăng lên tuỳ theo khả năng của các hãng, công ty nhập phim và những điều kiện cơ sở vật chất khác như hệ thống rạp chiếu, phương tiện kỹ thuật nghe nhìn..., nhu cầu của khán giả.

Nhưng khi "cung" theo "cầu", không hạn chế số lượng, thì sẽ nảy sinh vấn đề, "cung" gì? Nếu hãng nhập phim hợp đồng với đối tác "nhập trọn gói" tất cả những gì của họ, không cho có quyền lựa chọn (vì dạng hợp đồng này tiền bản quyền mua phim thấp, có thể lấy doanh thu phim "bom tấn" bù phim kén khán giả), thì những phim mang nội dung không phù hợp các quy định, quy chế về tư tưởng, văn hoá, thuần phong mỹ tục... ở VN sẽ xử lý ra sao? Rồi những cam kết về "bảo toàn nguyên bản" phim nhập của đối tác sẽ hạn chế quyền kiểm duyệt "cắt" phim...

Nếu định hướng nội dung phim nhập, thì phải theo dạng hợp đồng chọn phim, tiền bản quyền sẽ cao hơn, việc bảo đảm doanh thu có lời cho nhà nhập khẩu phim khó thực hiện. Phần "thiệt hại" đó sẽ giải quyết như thế nào?

20% số phim nội có còn ý nghĩa?

Ngay như khi chưa bỏ hạn ngạch nhập phim thì tỉ lệ 20% số phim nội ra rạp đã không thực hiện được, vẫn chỉ là con số trong tương lai. Thực trạng của ĐAVN 1 năm phim làm ra của cả Nhà nước và tư nhân không vượt quá con số 10, nghĩa là chưa tới 10%/ 120 phim nhập/năm (tính đến năm 2008), chưa tính đến số phim VN ra rạp, tỉ lệ còn thấp hơn nhiều, doanh thu có lời không lỗ, cũng chỉ ở một số phim của các hãng tư nhân với số phim đếm trên đầu ngón tay.

Phim nhập không hạn chế số lượng, phim VN sẽ càng "hẹp" hơn, con số 20% càng xa vời vợi để đạt được. Không những thế, ĐAVN hiện thời chưa thực sự có một thị trường phim. Vậy ngành ĐAVN sẽ làm gì để có thể đương đầu với phim nhập, để không những tồn tại, phát triển mà còn cạnh tranh thị trường với phim ngoại?

Điện ảnh VN nhìn gần, nhìn xa

Trước mắt, với việc xóa bỏ hạn ngạch nhập phim, thiết nghĩ các nhà quản lý ngành ĐAVN nên có chính sách bảo hộ ĐAVN, cụ thể là cho phim VN khi sản xuất và phát hành. Có một hành lang pháp lý miễn - giảm thuế với phim VN, khuyến khích các hãng, rạp chiếu phim VN bằng những ưu tiên trong kinh doanh.

Đồng thời, cũng phải có kế hoạch chiến lược lâu dài đối với ngành ĐAVN, xây dựng thị trường phim bằng cách tạo dựng môi trường cạnh tranh bằng chính chất lượng của phim VN. Và không thể "đi tắt, đón đầu" mà phải có chính sách đào tạo nhân lực lâu dài, chuyên nghiệp về ngành ở các quốc gia có nền điện ảnh phát triển.

Cởi mở hơn trong lĩnh vực sản xuất phim

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh vừa được thường trực Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội thảo luận (12.3). Được biết, dự thảo luật lần này được sửa theo hướng cho phép thành lập liên doanh với nước ngoài trong cả 3 lĩnh vực: Sản xuất phim, phát hành phim và phổ biến phim, với phần góp vốn của phía nước ngoài không quá 51% vốn pháp định, đúng như cam kết WTO.

Luật Điện ảnh hiện hành cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được liên doanh với tổ chức, cá nhân VN trong lĩnh vực phát hành phim và phổ biến phim với tỉ lệ góp vốn không hạn chế. Còn đối với lĩnh vực sản xuất phim, tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được hợp tác với tổ chức, cá nhân VN sản xuất từng bộ phim.

Như vậy, đối với lĩnh vực sản xuất phim, quy định của dự thảo cởi mở hơn so với luật hiện hành. Còn trong lĩnh vực phát hành phim và phổ biến phim, từ chỗ cho thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nay dự thảo luật chỉ cho thành lập liên doanh với vốn góp của phía nước ngoài không quá 51% vốn pháp định. 

Cùng chuyên mục