Ung thư cổ tử cung là loại ung thư ác tính hình thành trong các mô cổ tử cung (các cơ quan kết nối tử cung và âm đạo). Có rất nhiều loại bệnh ung thư cổ tử cung, trong đó, loại phổ biến nhất là ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC), chiếm khoảng 85%% đến 90% trong tất cả các loại ung thư cổ tử cung.
Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung
Nhiễm các vi rút Papilloma ở người (HPV) là nguyên nhân phổ biến gây ung thư cổ tử cung. Tất cả phụ nữ có quan hệ tình dục đều có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, những phụ nữ có nhiều yếu tố nguy cơ: có nhiều bạn tình, bắt đầu quan hệ tình dục sớm (trước tuổi 16) mà không được bảo vệ, sinh đẻ nhiều, hút thuốc lá có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn.
HPV thâm nhập vào bên trong tế bào cổ tử cung, phát triển và làm biến đổi gen của tế bào. Các tế bào bị đột biến gen sẽ phát triển thành các tế bào ác tính. Quá trình này phải mất nhiều năm, có thể từ 10 đến 15 năm. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn tiền lâm sàng - đã có bất thường về mức độ tế bào nhưng khi thăm khám thì cổ tử cung có thể hoàn toàn bình thường. Sau đó, ung thư sẽ lan rộng nhanh chóng trong thời gian ngắn.
Chẩn đoán dựa vào:
Triệu chứng: Ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu không có các triệu chứng. Một số triệu chứng ung thư cổ tử cung sau đây có thể gặp: Ra máu bất thường ngoài kỳ kinh, ra khí hư; Đau (ít gặp): Đau lưng, đau khi quan hệ tình dục và tiết dịch âm đạo; Các triệu chứng tiêu hóa (táo bón mãn tính) tiết niệu (đi tiểu bị đau hoặc khó khăn và nước tiểu đục) gặp ở giai đoạn muộn; Một chân bị sưng;
Khám: Mỏ vịt, thăm âm đạo: tổn thương sùi loét CTC. Cận lâm sàng: Soi cổ tử cung và sinh thiết cổ tử cung: Dùng máy soi phóng đại 10-20 lần để đánh giá được kích thước và ranh giới của vùng chuyển đổi bất thường. Sinh thiết lấy một mảnh hoặc nạo ống cổ tử cung dưới hướng dẫn của soi cổ tử cung để chẩn đoán mô bệnh học. Mô bệnh học: ung thư biểu mô vảy 90%, ung thư biểu mô tuyến 10%
Siêu âm, CTscanner: đánh giá di căn hạch ổ bụng, tổn thương chèn ép ở tiểu khung (giãn đài bể thận...). Siêu âm đầu dò âm đạo cho phép đánh giá kích thước, mức độ xâm lấn. MRI: phương pháp tối ưu nhất phân giai đoạn. Đánh giá kích thước, mức độ xâm lấn khối u.
Điều trị và chăm sóc:
Ung thư cổ tử cung được điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị. Các phương pháp này có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc đôi khi phải kết hợp hai phương pháp để tăng thêm hiệu quả điều trị. Cách thức điều trị cụ thể tùy thuộc vào giai đoạn bệnh.
Sau điều trị, trong một số trường hợp bệnh vẫn có thể tiếp tục tiến triển hoặc tái phái và di căn sau một khoảng thời gian tạm ổn định. Vì vậy, bệnh nhân cần tái khám định kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ điều trị để có thể sớm phát hiện các bất thường và kịp thời điều trị.
Bệnh nhân cần ăn uống đầy đủ, cân đối các chất dinh dưỡng, không nên ăn kiêng và tránh để sụt cân, nên tập thể dục đều đặn, có thể tập dưỡng sinh, chơi một số môn thể thao phù hợp theo sự tư vấn của bác sĩ.
Nếu được điều trị, tỷ lệ sống trên 5 năm của ung thư cổ tử cung 5 năm là 92% cho các giai đoạn sớm nhất, từ 80% đến 90% cho ung thư giai đoạn 1, và 50% đến 65% cho giai đoạn 2. Chỉ có 25% đến 35% phụ nữ ở giai đoạn 3 và ít hơn 15% với ung thư cổ tử cung giai đoạn 4 còn sống sau 5 năm. Do đó, kiểm tra và phát hiện sớm ung thư cổ tử cung là rất quan trọng.
Phòng ngừa ung thư cổ tử cung
Bằng cách tiên vacxin phòng HPV: Hiện có trên 150 týp HPV đã được định danh, trong đó có trên 40 týp lây nhiễm qua đường tình dục, 14 týp được xác định là nhóm nguy cơ cao gây ung thư. Trong các typ này, týp 16 và 18 gây ra khoảng 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới, týp 6 và 11 là nguyên nhân gây ra 90% các trường hợp bướu lành đường sinh dục và hậu môn và có nguy cơ gây ra ung thư cổ tử cung.
Hiện nay, có 2 loại thuốc phòng ngừa HPV: loại thứ nhất phòng được 2 týp HPV 16 và 18, loại thứ 2 phòng được 4 týp 6,11, 16 và 18. Việc tiêm phòng vacxin hiệu quả nhất ở các bé gái trong độ tuổi từ 9 – 26, chưa có sinh hoạt tình dục. Cần tiêm ung thư cổ tử cung 3 liều : liều thứ nhất, liều thứ 2 sau đó 2 tháng và liều thứ 3 sau liều đầu tiên 6 tháng. Tiêm chủng càng sớm hiệu quả càng cao. Ngoài ra, để giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung, các bạn gái nên sinh hoạt tình dục lành mạnh, không hút thuốc lá, nên thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.
Khám sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung bằng cách phết tế bào cổ tử cung - âm đạo. Khám sàng lọc là tìm ung thư cổ tử cung trong cộng đồng phụ nữ bình thường. Phương pháp khám sàng lọc rất đơn giản và không gây đau đớn, tổn thương cho người phụ nữ: khám phụ khoa định kỳ và phết tế bào cổ tử cung - âm đạo để làm tế bào học. Phụ nữ đã quan hệ tình dục nên khám phụ khoa và thực hiện phết tế bào cổ tử cung - âm đạo ít nhất mỗi năm một lần để có thể phát hiện sớm những thay đổi ở cổ tử cung.
Bác sĩ Đoàn Thị Hạnh (Trung tâm Y tế Dự phòng Quảng Ninh)