Phục dựng loại hình hát giao duyên trên biển của ngư dân: Chuyện kể của người trong cuộc

Việc phục dựng đối với loại hình hát giao duyên (nằm trong Dự án phục dựng, bảo tồn và phát huy một số sinh hoạt văn hoá dân gian của ngư dân làng chài Cửa Vạn trên Vịnh Hạ Long) do Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch làm chủ đầu tư vừa hoàn thành...

Phục dựng loại hình hát giao duyên trên biển của ngư dân: Chuyện kể của người trong cuộc ảnh 1
Diễn thực cảnh hát giao duyên của ngư dân làng chài Cửa Vạn.

Kể chuyện cho chúng tôi nghe, ông Cao Đức Bình, Thư ký dự án phấn khởi cho biết: Chúng tôi mở lớp học hát cho mấy chục người, cả người già, thanh niên và các em học sinh của làng chài tham gia. Đầu tiên, họ cũng không mặn mà lắm, chỉ thấy ê a nhưng sau họ trở nên hào hứng, gắn bó với lớp học. Từ đó mà phát hiện ra khá nhiều giọng hát hay. Bên cạnh đó, một số thành viên của lớp là các nhân viên Trung tâm Văn hoá nổi Cửa Vạn, họ ít nhiều đã từng được học hát các làn điệu giao duyên, lại có năng khiếu diễn nữa nên tốp họ có vẻ “hơi át đi'' giọng hát của các ca sỹ làng chài! Tuy vậy, về sau, tốp của làng chài cũng dần vượt lên ngang hàng, không kém cạnh bao nhiêu. Một trong 3 hình thức hát giao duyên là sân khấu hoá hát giao duyên - hình thức này tương ứng với việc hát chơi, hát vào những dịp hội hè của bà con ngư dân xưa - nghĩa là để phục dựng lại thì diễn viên phải vừa hát vừa diễn như thật, điều này các em trong tốp thanh niên của làng chài cũng làm rất khá... Khi dàn dựng, chúng tôi chọn ra được 25 em khá nhất để hát, biểu diễn phục vụ cho việc quay phim, chụp ảnh theo yêu cầu của dự án.

Do có liên quan đến sân khấu nên dự án đã mời thêm đạo diễn, Nghệ sỹ Ưu tú Đỗ Trọng Bình tham gia. Cứ hình dung, rõ ràng một đạo diễn chuyên dựng cho sân khấu chuyên nghiệp nay đi phục dựng lại sân khấu thật trong đời thường, khó tránh được thói quen nghề nghiệp. Ấy là khi dựng, đạo diễn cứ muốn đưa âm nhạc vào, bắt diễn viên diễn như chuyên nghiệp hay thiên về trau chuốt sao cho thật đẹp, do vậy, yếu tố chân thật, bình dị của sinh hoạt văn hoá dân gian này trong đời sống sẽ bị giảm nhiều... Ông Bình, Thư ký dự án nửa đùa, nửa thật bảo: Chỉ tranh cãi, thuyết phục để đạo diễn hiểu ra điều đó thôi cũng rất mệt rồi!

Đó là mãi sau này, còn ban đầu những người làm dự án đứng trước không ít khó khăn. Tư tưởng bà con ngư dân đa phần cho rằng việc hò hát những làn điệu xưa là... lạc hậu. Để thay đổi suy nghĩ của họ, dự án phải mở nhiều lớp tập huấn về mục tiêu, ý nghĩa của dự án cho hầu hết người dân làng chài. Các lớp học hát cũng được mở kèm với lớp tập huấn. Khi tư tưởng bà con đã thông thì lại phát sinh vấn đề khác. Thanh niên của làng chài đều là lao động chính của gia đình. Những con nước nổi, vào mùa tôm cá, bắt ốc rồi đánh bắt sứa v.v... họ không thể theo học được mà phải tham gia lao động cùng gia đình. Thu nhập của họ những dịp này cao hơn nhiều so với mức hỗ trợ khi tham gia dự án. Hiểu được điều này, nhằm cân bằng lợi ích giữa ngư dân và dự án nên mỗi dịp làng chài bận rộn với công việc chài lưới thì lớp học tạm nghỉ. Bù lại, những quãng nghỉ này lại tạo điều kiện cho họ “ngấm dần'' những điệu hò câu hát giao duyên.

Làm rất nhiều phần việc của dự án (từ nghiên cứu sưu tầm, xây dựng các kịch bản và trực tiếp cùng đạo diễn, các nghệ nhân tổ chức phục dựng) là thư ký - ông Cao Đức Bình, nhân viên Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch. Tôi biết ông đã lâu và rất kính trọng ông bởi sự trầm tĩnh của một người hiểu biết, giàu kinh nghiệm. Đây không biết là công trình thứ bao nhiêu ông làm về nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng văn hoá dân gian. Gặp lại ông sau khi dự án hoàn thành phần phục dựng hát giao duyên trên biển, hỏi dăm ba chuyện ngoài lề, ông cười kể chuyện ăn ở trên biển. Ông bảo, mọi người thấy tôi đi biển thì bảo sướng quá, được ăn cá tươi, gió biển lồng lộng phóng khoáng... Thật ra, tôi và ông Bình đạo diễn ở phòng làm việc của Trung tâm Văn hoá nổi Cửa Vạn, có lần ở trên biển hàng chục ngày liền, đa phần tự nấu ăn lấy. Đồ ăn thì mua đồ hộp trong đất liền mang ra, mua của các bè bán hàng rong, còn cá tươi khó kiếm lắm, bà con đánh bắt được toàn mang ngay vào đất liền bán thôi, giá cũng tương đối đắt. ở đây xung quanh núi đá bao bọc nên rất kín gió, nhất là những ngày nước kém, nghén nước thì nóng nực lắm, vị biển tanh nồng, có dùng quạt hay thắp đèn cũng chỉ vài tiếng buổi tối thôi vì phải chạy máy phát. Gió biển vốn mang hơi mặn nên da lúc nào cũng nhớp nháp. Còn muỗi, giãn thì nhiều vô kể, ngồi trong màn giãn nó cũng chui vào đốt được, ngứa ngáy rất khó chịu...

Vượt qua bao khó khăn, cái được cũng không phải là ít. Ông Cao Đức Bình hồ hởi khoe: Một thắng lợi lớn của chúng tôi là người được hưởng lợi từ dự án - người dân làng chài - đã hiểu được lợi ích, hiệu quả của việc này. Ngay cả người của Trung tâm Văn hoá nổi Cửa Vạn cũng vậy. Khi chúng tôi biểu diễn để quay phim, khách du lịch đến, họ lưu lại rất lâu để xem, rồi quay phim, chụp hình từ đầu đến cuối. Người dân làng chài cũng vậy, khi nào chúng tôi hò hát là họ kéo đến xem rất đông... Bên cạnh đó thì những trăn trở của ông Bình vẫn còn rất lớn. Đó là, dự án mới chỉ làm phần việc phục dựng các hình thức hát giao duyên trên biển để quay phim, chụp ảnh mang tính sưu tầm, lưu giữ, còn trong đời sống thực rất dễ mất đi. Kết quả dự án sẽ được bàn giao lại cho Ban Quản lý Vịnh Hạ Long để duy trì, như tốp của họ thì dựng thành nhiều tiết mục, khai thác phục vụ du lịch. Vậy còn tốp của làng chài thì sao? Nếu nhân rộng bằng hình thức CLB hát giao duyên của làng chài, may ra mới duy trì được. Ông Bình khẳng định: Cách bền vững nhất, cách để bảo tồn sống những giá trị văn hoá phi vật thể này là phải phục dựng cả không gian văn hoá chứa đựng nó, tức là bối cảnh của một làng chài thuỷ cư cổ trên Vịnh Hạ Long. Điều cuối cùng là các giá trị văn hoá này phải trở thành một nguồn lực kinh tế từ việc khai thác phục vụ phát triển du lịch.

Nhưng xem ra, hiện thực này  rất xa vời?

Cùng chuyên mục