Chủ Tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài của cách mạng Việt Nam. Toàn bộ di sản, tư tưởng của Người là một kho báu văn hoá của dân tộc, hàm chứa nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú, đặc sắc và sáng tạo, rất trí tuệ và nhân văn.
Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người, tư tưởng về văn hoá chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng bởi lẽ những quan điểm của Người về văn hoá đã trở thành nền tảng, kim chỉ nam cho Đảng ta trong việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển văn hoá qua các giai đoạn cách mạng ở nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Việc tìm hiểu quan điểm của Người về vấn đề bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc sẽ giúp cho chúng ta có cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn để thưc hiện chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước.
Hồ Chí Minh là người rất quan tâm đến việc bảo tồn các giá trị văn hoá của dân tộc (văn hoá vật chất - văn hoá tinh thần).Ngay từ khi mới bắt đầu hoạt động cách mạng ở Pháp và khi chưa tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã kịch liệt lên án chính sách ngu dân, vạch trần tâm địa xấu xa, bỉ ổi của thực dân Pháp đối với các nước thuộc địa. Người viết: “ Chúng tôi thiết tưởng rằng những người Pháp thông minh và chân thực biết tỏ tính ưu việt tự nhiên của mình ở bất cứ nơi nào mình sống, thì không cần phải sống giữa những người bản xứ vĩnh viễn bị khoá mồm bịt miệng và bị xỏ mũi, mới có thể giữ được tính ưu việt đó”(1).
Để thay thế văn hoá nô dịch của chủ nghĩa thực dân bằng một nền văn hoá mới cách mạng, ngay sau khi vừa mới giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính Phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà (3-9-1945), Hồ Chí Minh đã đề nghị cần phải mở ngay một chiến dịch chống giặc dốt. Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những tập tục lạc hậu lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Người nói: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người khẳng định văn hoá là tinh hoa của dân tộc, văn hoá phải góp phần khẳng định vị thế của dân tộc. Vì thế, trong Báo cáo Chính trị tại Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng lao động việt nam (2-1951), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hoá là: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc. Đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng” (2).
Chủ trương trên đã thể hiện rõ ràng quan điểm của Hồ Chí Minh về giá trị văn hoá dân tộc. Người khẳng định: càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin bao nhiêu càng phải coi trọng những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu và phải biết giữ gìn vốn văn hoá quí báu của dân tộc, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hóa. Đây chính là quan điểm về bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc một cách có chọn lọc của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến những di sản văn hoá vô hình của dân tộc. Đối với Người, những làn điệu thơ cổ là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần. Nói chuyện với nghệ sĩ Đinh Thìn, Người tâm sự: “Âm nhạc của ta rất độc đáo. Bác đã đi nhiều nước trên thế giới, nhưng Bác vẫn nhớ những câu hát của dân ta. Ta có nhiều câu hát dân ca hay lắm, bây giờ phải khai thác phát triển nó lên. Cháu là thanh niên, cháu phải làm nòng cốt tiếp thu và phát triển âm nhạc dân tộc” (3).
Khi tiếp chuyện nhà văn Đức Irênê Phabe (người dịch Truyện Kiều), Hồ Chí Minh nói: “Nguyễn Du là một nhà thơ cổ điển vĩ đại của chúng tôi….những người cộng sản chúng ta rất quí trọng cổ điển, có những dòng suối tiến bộ chảy từ ngọn nguồn cổ điển đó, càng thấm thuần chủ nghĩa Mác-Lê nin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”(4).
Tư tưởng bảo tồn vốn quý văn hoá của dân tộc đã được Hồ Chí Minh thể hiện qua nhiều bài nói, bài viết và khi tiếp xúc với các nhà văn hoá trong nước, ngoài nước. Đặc biệt là được thể hiện trong Sắc lệnh về bảo tồn tất cả các cổ tích trong toàn cõi Việt Nam như: đình, chùa, đền miếu, cung điện, thành, quách, lăng mộ, bia ký, đồ vật, sách vở…(Sắc lệnh 65, ký ngày 23-11-1945).
Tư tưởng về bảo tồn văn hoá dân tộc của Hồ Chí Minh không phủ nhận sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau của văn hoá các nước, mà ngược lại, khẳng định sự giao thoa giữa các nền văn hoá của các dân tộc khác nhau, coi đó như một động lực thúc đẩy sự phát triển văn hoá của mỗi dân tộc, làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn, phong phú hơn. Hồ Chí Minh cho rằng: “Văn hoá Việt Nam là ảnh hưởng lần nhau của văn hoá Đông phương và Tây phương chung đúc lại…Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hoá Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật thuần tuý Việt Nam để hợp với thực tiễn dân chủ” (5).
Trải qua 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, Hồ Chí Minh vẫn giữ trọn được những giá trị tuyền thống của dân tộc: Tính cộng đồng (đi xa mà vẫn giữ nguyên tình cảm quê hương, gia tộc, vẫn không quên giọng quê xứ Nghệ),… Đồng thời Người cũng rất am hiểu các trào lưu nghệ thuật Á, Âu. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc đã - đang - sẽ trở thành nền tảng, kim chỉ nam cho Đảng ta trong việc “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Đồng thời trên cơ sở đó tiến hành hội nhập và giao lưu với các nền văn hoá tiến bộ trên thế giới để cùng nhau tồn tại, phát triển và hướng tới một “nền văn hoá của tương lai” - Nền văn hoá đã được kết tinh trong người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh. Toàn tập, t1. NxbCTQG, Hà Nội, 2000,tr4.
----------------------------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t6.NxbCTQG, Hà Nội t4, 2000,tr173.
(2) Bác Hồ với văn nghệ sĩ,Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985. tr 229.
(3) Bác Hồ với văn nghệ sĩ,Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985. tr 335.
(4) Hồ Chí Minh.Về văn hoá. Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản, Hà Nội,1997. tr 350
(5) Trần Văn Giàu. Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam (tái bản),
NXB Hồ Chí Minh.1993 tr331.