Theo UBND xã Quan Lạn (Vân Đồn) thì vào mùa du lịch, Quan Lạn có khoảng 300-400 khách du lịch/ngày, đặc biệt những ngày lễ lớn như 30-4, 1-5 v.v... Quan Lạn có tới khoảng 2,5 vạn khách/ngày.
Đây là những con số mà nhiều xã đảo khác, như Ngọc Vừng, Bản Sen (Vân Đồn), Thanh Lân (Cô Tô), Cái Chiên (Hải Hà) v.v... cũng có tiềm năng du lịch tương tự vẫn chưa đạt được. Thế nhưng, mặc dù vậy thì Quan Lạn hiện nay vẫn là xã nghèo, thậm chí còn có 2 thôn rất nhiều hộ nghèo, là thôn Tân Lập và thôn Yên Hải.
Điều này có nguyên nhân mà ai cũng nhận ra; đó là thực tế rất ít hộ ở Quan Lạn có đủ nguồn vốn để xây dựng nhà nghỉ, phát triển du lịch; đa số những người dân sống ở Quan Lạn cũng chỉ kiếm sống bằng nghề đào sá sùng. Đây là nguồn lợi sẵn có ở tự nhiên không chỉ phục vụ khách du lịch mà còn tiêu thụ rất tốt trên thị trường, vì mặt hàng này gần như là mặt hàng đặc trưng của Quan Lạn, sá sùng Quan Lạn không chỉ nổi tiếng trong tỉnh mà trong cả nước. Gần đây Quan Lạn lại phát triển nghề nuôi dê ở 3 hộ thuộc thôn Yên Hải với lượng dê khoảng hơn 200 con. Anh Nguyễn Văn Toàn, Chủ tịch Hội nông dân xã Quan Lạn cho biết: “Về mùa du lịch, dê không đủ cung cấp cho các nhà hàng, nhưng có điều dê chỉ tiêu thụ mạnh vào mùa du lịch còn các mùa khác tiêu thụ rất chậm”.
Ông Lý Văn Lành, nguyên Chủ tịch Hội nông dân xã Quan Lạn, sau khi nghỉ hưu chuyển sang nuôi vịt chuyên nghiệp. Ông cho biết: “Tôi đã có 20 năm làm nghề nuôi vịt. Vịt của tôi hiện có 160 con, hàng ngày chúng cho tôi nguồn thu được khoảng 120 quả trứng. Trứng vịt của tôi không đủ bán giao cho các nhà hàng của Quan Lạn, chứ chưa nói là để bán ra thị trường bên ngoài...”. Cũng theo ông Lành, trứng vịt của ông được bán giao với giá khá đắt là 2,3 nghìn đồng/quả và các nhà hàng bán lại cho thực khách là 4.000 đồng/quả, nhưng trứng có đến đâu bán hết đến đấy, vì khu vực ao ông nuôi vịt gần một khu rừng ngập mặn rộng khoảng 50 ha, ở đó có nguồn thức ăn dồi dào trong tự nhiên như ốc, cáy, còng, tôm, tép v.v... vịt ăn thoải mái. Do vịt được nuôi bằng thức ăn tự nhiên nên trứng vịt có mùi thơm được khách du lịch rất thích đặc biệt là khách nước ngoài. Thế nhưng hiện nay ở Quan Lạn, ông Lành vẫn là người duy nhất nuôi vịt có quy mô tương đối lớn. Một cán bộ Hội nông dân khác của xã cũng cho biết: “Quan Lạn có rừng có biển, có nhiều quỹ đất để phát triển các mô hình sản xuất, dịch vụ. Chúng tôi đã đi tham quan mô hình nuôi nhím nuôi lợn rừng ở Hoành Bồ, cảm thấy rất thích hợp khi đem áp dụng vào Quan Lạn, vì ở đây có nhiều loại thức ăn sẵn có trong tự nhiên phù hợp với các loài động vật này. Nhưng khi phổ biến cho bà con thì chưa thấy có hộ nào mạnh dạn làm”.
Vì sao các mô hình kinh tế “ngon ăn” vậy vẫn chưa được người dân Quan Lạn nắm bắt?- Trả lời câu hỏi này, nhiều cán bộ cũng như người dân trong xã mà chúng tôi có dịp gặp gỡ đã giải thích: Nguyên do vẫn là bởi những người nông dân Quan Lạn lâu nay vẫn “trung thành” với nghề đào sá sùng. Một thợ đào sá sùng cho biết: “Chúng tôi chỉ cần sắm một cái mai chuyên dụng, một cái giỏ xách tay đầu tư khoảng hơn trăm nghìn đồng là xong. Người đào kém cũng được hơn trăm nghìn đồng/ngày, người đào giỏi kiếm được 5-6 trăm nghìn đồng/ ngày. Làm mô hình phải lo đồng vốn, chăm sóc, lo đầu ra, đầu vào mà chẳng biết có được ăn hay không mệt lắm”...
Thế nhưng, nếu chỉ trông vào mỗi nghề đào sá sùng thì Quan Lạn khó có thể tạo ra được bứt phá để thoát nghèo, vươn lên làm giàu; nhất là vào thời điểm hiện tại, nguồn sá sùng dù lớn nhưng không phải là vô tận. Hàng ngày có khoảng từ 500-700 người hành nghề đào sá sùng quanh năm trên bãi Quan Lạn thì quả chúng làm sao sinh sản kịp...
Như thế với nhiều tiềm năng thế mạnh về kinh tế, Quan Lạn có thể tạo ra nhiều bứt phá trong phát triển kinh tế, nhất là phát triển hậu cần du lịch, cung cấp nguồn thực phẩm đa dạng tại địa phương để phục vụ khách du lịch. Người dân sống bằng nhiều nghề không những tạo ra sự phát triển kinh tế phong phú cho xã, mà còn giảm được lượng người làm nghề đào sá sùng. Đây là nguồn lợi quý giá cần được khai thác có kế hoạch, để bảo tồn lâu dài.