Ngay từ những ngày đầu thành lập, Quảng Ninh vừa cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo đời sống nhân dân, vừa chủ động đối phó với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Quân và dân Quảng Ninh đã chứng tỏ bản lĩnh kiên cường, chiến thắng vẻ vang ngay từ trận đầu 5-8-1964 và liên tiếp đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, duy trì sản xuất, bảo đảm đời sống hàng vạn thợ mỏ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, góp sức chi viện cho miền Nam, cùng cả nước hoàn thành thắng lợi công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau khi thống nhất đất nước, Quảng Ninh cùng với cả nước bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh với muôn vàn khó khăn do bị cấm vận kinh tế và do cơ chế quan liêu bao cấp, lại thêm những thách thức từ sự kiện Liên bang Xô Viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam á... Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bằng đường lối đổi mới, quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế rộng mở, bằng tinh thần lao động sáng tạo và ý chí tự lực tự cường, Quảng Ninh lại cùng với cả nước vượt qua khó khăn, thách thức, kiên định và vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng vào điều kiện thực tế của địa phương, chủ động khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên đạt được những kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng. Đặc biệt là sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI và XII.
Kinh tế phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1996-2000 đạt bình quân 9,6%/năm; từ năm 2001 đến 2003, tăng trưởng kinh tế luôn đạt mức khá, GDP tăng bình quân 12%. Hai năm 2006, 2007 GDP tăng bình quân 13,45%, ước tính 6 tháng đầu năm 2008 tăng 12,5%. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực qua các năm gần đây, tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm dần, khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ tăng nhanh và giữ vai trò chủ đạo. Điều đáng chú ý, từ một tỉnh sản xuất than là chủ yếu nay đã trở thành một tỉnh công nghiệp sản xuất đa ngành, đa dạng sản phẩm, nhiều mặt hàng mới phát triển như công nghiệp điện, đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng, thiết bị điện, máy mỏ, lắp ráp ô tô, xe máy, chế biến dầu thực vật, bột mì, hải sản xuất khẩu, may mặc, đóng tàu thuyền, vận tải biển..., đang hình thành nhiều khu công nghiệp, nhiều dự án sản xuất điện, thép, xi măng...
Du lịch và dịch vụ từ một số cơ sở điều dưỡng phục vụ công nhân mỏ và một số lao động đặc thù, nay đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển đa dạng và có mức tăng trưởng cao, ngày càng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ năm 2006 là 21,1%, năm 2007 tăng 19,7% (bình quân 2 năm tăng 19,9%), ước 6 tháng đầu năm 2008 tăng 21,1%. Các cơ sở kinh doanh khách sạn, dịch vụ, các khu vui chơi giải trí khá phong phú tại các trung tâm du lịch lớn như: Bãi Cháy, Tuần Châu, Trà Cổ, Vân Đồn, Yên Tử... hàng năm đón hàng triệu khách du lịch đến tham quan, thưởng thức. Năm 2006, tổng số khách du lịch đến Quảng Ninh đạt 3,1 triệu lượt, năm 2007 đạt 3,6 triệu lượt, tăng 16%, 6 tháng đầu năm 2008 đạt 2,6 triệu lượt tăng 21,9% so với cùng kỳ. Cùng với các cảng biển, cửa khẩu quốc tế mới đầu tư xây dựng, các trung tâm kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Trung tâm Thương mại Hạ Long góp phần thúc đẩy ngành thương mại dịch vụ và sản xuất phát triển.
Trong 45 năm qua, GDP và cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã có sự thay đổi rất quan trọng. Giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch tăng đáng kể. Ước 6 tháng đầu năm 2008, giá trị sản xuất các ngành công nghiệp xây dựng, nông nghiệp, dịch vụ tương ứng là 49,69%-4,95%-45,36%; cơ cấu lao động tương ứng là 21,03%-54,05%-25,74%.Trong những năm gần đây mỗi năm đã giải quyết việc làm mới cho 2,4 vạn lao động.
Năng lực sản xuất của nhiều ngành kinh tế mũi nhọn được tăng cường. Kinh tế đối ngoại có nhiều chuyển biến, về hợp tác, đầu tư, huy động được nhiều nguồn vốn cho đầu tư, phát triển. Tổng vốn đầu tư xã hội năm 2006 đạt 15.940 tỷ đồng, năm 2007 đạt 24.140 tỷ đồng, tăng 45%. 6 tháng đầu năm 2008 ước đạt 12.660 tỷ đồng. Hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư mạnh mẽ. Đường giao thông, điện lưới, hệ thống thuỷ lợi, thông tin liên lạc viễn thông... được quan tâm xây dựng, phát triển theo hướng kiên cố hoá, hiện đại hoá. Gần đây, các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh được cấp uỷ chính quyền các địa phương hết sức quan tâm chỉ đạo, phối hợp tích cực với các nhà đầu tư triển khai đảm bảo kế hoạch và hiệu quả. Trong công nghiệp, đã khánh thành đưa vào sử dụng nhà máy Nhiệt điện Uông Bí mở rộng I, nhà máy Xi măng Cẩm Phả, Xi măng Lam Thạch; đang tập trung đẩy nhanh tiến độ nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh, Nhiệt điện Cẩm Phả, Nhiệt điện Uông Bí II; nhà máy Xi măng Thăng Long, Xi măng Hạ Long; nhà máy Chế tạo thiết bị nâng hạ; khu công nghiệp đóng tàu Cái Lân, khu công nghiệp cảng - biển Hải Hà, cụm công nghiệp đóng tàu Yên Hưng. Về giao thông, đã đưa vào sử dụng cầu Bãi Cháy, cầu Bang, cầu Vân Đồn, 6 cầu treo dân sinh; tiếp tục đầu tư đường Ba Chẽ - Lương Mông, đường 334, đường bao biển núi Bài Thơ, đường Trới - Vũ Oai, đường Hà Lầm - Cầu Trắng, đường 337 Loong Toòng - Bang, đường tránh Đông Triều, đường du lịch Dốc Đỏ - Yên Tử; đường và bến cập tàu cảng Dân Tiến, mở rộng và nâng cấp tuyến quốc lộ 18A đoạn Cửa Ông - Móng Cái... và một số tuyến đường biên giới. Về thuỷ lợi đã kiên cố hoá 64,5km kênh mương, khởi công dự án hồ Đầm Hà Động và đầu tư nâng cấp đê biển Hà Nam, bắc Cửa Lục, đông Yên Hưng... Các trung tâm thành phố, thị xã, khu du lịch, khu kinh tế, khu công nghiệp, cửa khẩu được xây dựng, mở rộng hơn.
(Còn nữa)