“Trong giai đoạn kế hoạch 5 năm lần thứ 11, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của Quảng Tây ở mức cao, trung bình 13,9%/năm, song chất lượng môi trường toàn khu không những không hề giảm mà còn tăng trưởng bền vững, môi trường không khí, nước mặt và nước khu vực ven biển được bảo vệ tốt, chất lượng môi trường sinh thái, độ ồn tại các đô thị được quản lý tốt, môi trường bức xạ ở trong phạm vi cho phép”, báo cáo về tình hình chất lượng môi trường Quảng Tây trong giai đoạn kế hoạch 5 năm lần thứ 11 của Giám đốc Sở Môi trường Khu Tự trị Lương Bân cho biết.
Theo số liệu thống kê, các chỉ tiêu về môi trường nước, không khí và môi trường sinh thái, môi trường bức xạ của Quảng Tây liên tục trong 5 năm đều đạt ở mức ưu. Trên phương diện chất lượng không khí đô thị, trong giai đoạn năm 2006-2010, 14 thành phố của khu đã lần lượt thiết lập hệ thống kiểm tra chất lượng không khí tự động, cho tới năm 2010, toàn khu công bố thiết lập 38 điểm giám sát với nhiệm vụ kiểm tra lượng SO2, NO2 và các hạt bụi có thể bị hít vào cơ thể trong môi trường. Trong 5 năm, chất lượng môi trường không khí tại 14 thành phố trực thuộc khu đã có sự phát triển bền vững. Năm 2006, có 11 thành phố đạt tiêu chuẩn 2 cấp quốc gia, đó là: Nam Ninh, Quế Lâm, Ngô Châu, Bắc Hải, Phòng Thành Cảng, Khâm Châu, Ngọc Lâm, Bách Sắc, Hạ Châu, Lai Tân và Sùng Tả, đến năm 2010 tăng lên thành 13 thành phố (riêng Liễu Châu chỉ đạt tiêu chuẩn 3). Tỷ lệ đô thị đạt tiêu chuẩn cấp 2 tại các thành phố là 92,9%. Tỷ lệ số ngày đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường tốt là 98,8%, bình quân là 360 ngày, ở mức tốt nhất trong 5 năm trở lại đây. Số lượng thành phố bị ô nhiễm SO2 của khu từ 7 thành phố năm 2006 giảm xuống còn 5 thành phố năm 2010, nồng độ SO2 trong môi trường không khí giảm xuống rõ rệt, mật độ bụi khí giảm đi đôi chút, nói chung môi trường không khí của khu luôn được đảm bảo tốt. Tuy nhiên, vẫn còn có một số thành phố chất lượng môi trường khí không ổn định, chủ yếu do ảnh hưởng của các khu công nghiệp và giao thông nên lượng NO2 ô nhiễm có chiều hướng tăng. Trên phương diện chất lượng nước, năm 2006-2010, kiểm tra chất lượng nước tại 65 điểm trên 33 sông chính của khu đều đạt chất lượng tốt, nước đạt tiêu chuẩn loại I-III chiếm 86,2%-96,9%, năm 2010 là năm có chất lượng đạt tiêu chuẩn tốt nhất. Trong 5 năm, chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các thành phố của khu đạt tiêu chuẩn lần lượt là 98,7%, 96,6%, 97,9%, 98,8% và 95,5%. Về tổng thể, chất lượng nguồn nước sinh hoạt của khu luôn giữ ở mức tốt. Từ năm 2006-2010, Quảng Tây đã lắp đặt 48 trạm kiểm tra gần bờ có khả năng quan trắc 47 hạng mục. Kết quả kiểm tra cho thấy, trong năm 2006-2010, tỷ lệ các vùng nước biển loại 1, loại 2 ven biển tăng lên rõ rệt, chất lượng nước biển gần bờ trở nên tốt hơn, đến năm 2010, tỷ lệ chất lượng nước loại 1, loại 2 bình quân cả năm tại khu vực gần bờ đạt 89,6%, tăng 2,0% so với năm 2009, chất lượng nước loại 3 tăng 2,1% so với năm 2009. Về mặt chất lượng môi trường bức xạ, giai đoạn 2007-2010, xét về tổng thể môi trường bức xạ cả khu đạt chất lượng tốt. Lượng bức xạ gamma trong môi trường, giá trị nồng độ anpha trong khí quyển, nồng độ nguyên tố mang tính phóng xạ trong môi trường nước và thổ nhưỡng đều duy trì ở mức cho phép. Bức xạ trong môi trường điện ly được giữ ở mức ổn định. Về chất lượng môi trường sinh thái, trong giai đoạn kế hoạch 5 năm lần thứ 11 tình hình chất lượng môi trường sinh thái của khu luôn đạt ở mức ưu. Môi trường không khí tại nông thôn nhìn chung tốt, chỉ tiêu chất lượng nước tại các sông hồ, nguồn nước uống phần lớn đều đạt yêu cầu của nhà nước.
TP Nam Ninh, 1 trong 11 thành phố đạt tiêu chuẩn 2, cấp quốc gia Trung Quốc. Ảnh: Hữu Duy