Quyết liệt trong xử lý, phục hồi môi trường vùng than

Từ nhiều năm nay, bụi, nước thải, tiếng ồn v.v... do các hoạt động khai thác, vận chuyển than gây ra đã là nỗi ám ảnh và bức xúc của người dân Vùng mỏ. Đây là hậu quả của một thời kỳ dài mà công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm...

Quyết liệt trong xử lý, phục hồi môi trường vùng than ảnh 1
Bãi thải Khe Dè đã được cắt tầng giảm độ cao.

Theo số liệu khảo sát của TKV, hàm lượng bụi tại các khu vực khai thác, chế biến than đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,2-5,2 lần; trong đó ở các khu vực dân cư lân cận đo được trung bình là 3,3 lần/mức cho phép. Về nước thải mỏ, tại vùng than Quảng Ninh xả ra khoảng từ 25-30 triệu m3/năm. Trong nước thải có 2 thông số tiêu biểu ảnh hưởng đến môi trường là tính axít (độ pH thấp) và cặn lơ lửng. Cụ thể như độ pH của nước thải mỏ dao động từ 3,1-4,5; còn hàm lượng cặn lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép từ  1,7-2,4 lần, cá biệt có nơi vượt đến 8 lần. Nước thải này gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống sông, suối, hồ ven biển, như gây bồi lấp, làm mất nguồn sinh thuỷ, suy giảm chất lượng nước. Điển hình như một số hồ thuỷ lợi vùng Đông Triều đã bị chua hoá, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp.

Theo ông Trần Miên, Trưởng Ban Môi trường của TKV, một vài năm gần đây trong nước thải mỏ còn xuất hiện thêm các kim loại cần xử lý như sắt, măng gan, cadimi. Ngoài ra, khoảng 200 triệu m3 đất đá thải ra trong quá trình khai thác than hằng năm cũng là một trong những tác nhân gây ô nhiễm môi trường rất nặng nề ở vùng than. Đặc điểm khác biệt là các núi thải này lại nằm quá sát khu dân cư, Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long nên không chỉ làm gây ảnh hưởng tới cảnh quan mà còn gây bồi lấp sông suối, đe doạ sự an toàn của người dân phía dưới chân bãi thải và vùng hạ lưu. Theo đánh giá từ phía TKV, ngoài nguyên nhân do lịch sử khai thác than chưa chú trọng bảo vệ môi trường từ hơn 100 năm để lại, thì môi trường vùng than bị xuống cấp còn là do sự bất cập giữa một bên là sự gia tăng sản lượng than khai thác với một bên là sự không đáp ứng kịp của cơ sở hạ tầng giao thông và hậu cần vùng mỏ. Bởi vậy vấn đề cấp bách đặt ra với TKV hiện nay là vừa phải giải quyết hậu quả ô nhiễm môi trường do lịch sử để lại, vừa phải giải quyết những vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất hiện tại''.

Và cũng phải ghi nhận rằng từ những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường vùng than đã được tỉnh Quảng Ninh và TKV phối hợp chặt chẽ, kiên quyết nhằm chặn lại đà suy thoái môi trường, đồng thời từng bước cải thiện chất lượng môi trường vùng than. Tháng 9-2007, TKV chính thức bắt tay vào việc cải tạo các bãi thải cao. Tháng 10-2007, công cuộc cải tạo bãi thải cao được khởi đầu bằng việc cải tạo bãi thải Chính Bắc của Công ty CP Than Núi Béo, mở màn cho hàng loạt dự án cải tạo, phục hồi bãi thải cao. Cũng trong tháng này, một Hội nghị chuyên đề bảo vệ môi trường vùng than Quảng Ninh đã được TKV tổ chức. Nhiều người trong ngành đánh giá rằng đây là hội nghị ''thức tỉnh'' trách nhiệm của những người đứng đầu các đơn vị thành viên TKV về nhiệm vụ bảo vệ môi trường vùng than! Sau đó, TKV đã xây dựng một số văn bản nội bộ về bảo vệ và phòng ngừa sự cố môi trường. Cùng đó hệ thống bảo vệ môi trường của TKV đã hình thành và dần được chuyên nghiệp hoá (thành lập phòng Môi trường, tuyển cán bộ kỹ thuật chuyên ngành môi trường, để dần hình thành hệ thống ngành dọc về bảo vệ môi trường trong ngành v.v...).

Các hoạt động khắc phục ô nhiễm môi trường được thể hiện bằng nhiều việc làm cụ thể, như mua xe tưới nước, thu dọn rác thải, xây dựng nhiều dự án nạo vét lòng hồ, hệ thống thoát nước, xây dựng hệ thống đập, kè v.v... Từ tháng 11 năm 2007, TKV đã chấm dứt chuyển tải than trên Vịnh Hạ Long và từ ngày 1-1-2008 đã chấm dứt vận chuyển than trên quốc lộ 18A và tỉnh lộ 337. Để bảo vệ khu dân cư và cảnh quan đô thị, TKV đã thực hiện cải tạo các bãi thải cao dọc quốc lộ 18A bằng cách hạ thấp độ cao bãi thải, san cắt tầng, trồng cây phủ xanh v.v... Như thông báo từ Tập đoàn, hiện TKV đang bắt đầu tiến hành một ''cuộc cách mạng'' về công nghệ đổ thải. Đó là chấm dứt đổ thải bằng công nghệ bãi thải cao và thay thế bằng công nghệ đổ thải phân tầng, kết hợp tổ chức trồng cây phục hồi môi trường ngay trong quá trình sản xuất...

Tuy nhiên, theo đánh giá của chính những người trong ngành, giải quyết vấn đề môi trường vùng than không thể một sớm một chiều, không thể nóng vội. Và đây cũng là nỗi niềm trăn trở của lãnh đạo tỉnh và ngành. Xử lý nước thải mỏ, xử lý chất thải nguy hại, chống bồi lấp sông suối, cải tạo các bãi thải, hoàn thổ và phục hồi cảnh quan, xử lý phục hồi môi trường những vách đá cao v.v... là những vấn đề lớn của TKV trong công tác phục hồi, bảo vệ môi trường ở vùng than Quảng Ninh. Để đạt được mục tiêu ''Đến năm 2020 môi trường vùng than cơ bản được cải thiện và phục hồi'' đòi hỏi TKV những nỗ lực rất lớn cả về kinh phí, sự quan tâm, đầu tư và nhân lực...

Cùng chuyên mục