Đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn là một trong những nội dung mà tỉnh đặc biệt quan tâm trong những năm qua, chỉ tính riêng trong 3 năm (2008-2010) tổng vốn ngân sách đầu tư cho lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp và thuỷ lợi trên 1.360 tỷ đồng, bình quân mỗi năm trên 453 tỷ đồng.
Riêng năm 2011 ngân sách tỉnh đã phân bổ đợt I, 802 tỷ đồng hỗ trợ cho các địa phương thực hiện các mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới như xây dựng nhà văn hoá, trường học đạt chuẩn, nước sạch và vệ sinh môi trường, khoa học công nghệ thông tin, giao thông nông thôn.
Nông dân xã Nguyễn Huệ (Đông Triều) thu hoạch lúa.
Ảnh: Hữu Việt
Hàng loạt các chính sách đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất đã được triển khai thực hiện như: Chương trình hỗ trợ phát triển cây chè ở 2 huyện Hải Hà và Đầm Hà; chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng; phát triển vùng trồng, sản xuất miến dong ở Bình Liêu; phát triển đàn bò thịt, bò sữa; hỗ trợ trồng rừng sản xuất; đầu tư hạ tầng vùng nuôi thuỷ sản tập trung… Hiệu quả của các chính sách hỗ trợ này là sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp trong những năm gần đây phát triển tương đối khá, cho năng suất, chất lượng cao và liên tục được mùa, tỷ trọng nông nghiệp đã giảm dần trong cơ cấu kinh tế chung của tỉnh. Đặc biệt việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã trở thành phong trào rộng khắp ở các địa phương, hộ nông dân đã xác định được nhiều loại cây trồng có lợi thế, xây dựng được nhiều mô hình chuyển dịch cơ cấu sản xuất đạt giá trị kinh tế cao. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn. Tính đến hết năm 2010 tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông - lâm - thuỷ sản chiếm 47% trong tổng số lao động toàn tỉnh, riêng khu vực nông thôn lao động nông nghiệp chiếm 75,4%, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng chiếm 12,1%, dịch vụ thương mại 12,5%, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 23%. Bình quân mỗi năm tỉnh giải quyết việc làm mới cho khoảng 2,6 vạn lao động và Quảng Ninh là một trong 11 tỉnh, thành phố có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước. Hệ thống hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống khu vực nông thôn đã được tăng cường đầu tư, nhất là thuỷ lợi, giao thông nông thôn.
Nghiên cứu lai tạo giống hoa lan mới tại Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng sản xuất nông - lâm nghiệp Quảng Ninh.
Tuy nhiên, nhìn lại việc triển khai thực hiện các chính sách này trong thời gian qua thấy rằng việc hỗ trợ đầu tư cho khu vực tam nông vẫn còn rất nhiều tồn tại. Do nguồn vốn chỉ mang tính chất hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách tỉnh (tối đa là 50% cho từng hạng mục), trong khi đó các dự án đầu tư có quy mô tương đối lớn mà đối tượng được thụ hưởng chủ yếu là nông dân, do vậy việc huy động 50% sự đóng góp của người dân để cùng tham gia thực hiện chưa được nhiều. Với chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế hầu hết các nội dung đề nghị hỗ trợ của các địa phương không có định mức và mục tiêu cụ thể như: Phát triển cây rau, hoa, hạ tầng thuỷ sản nên chưa đánh giá được hiệu quả đầu tư. Đối với các nội dung hỗ trợ có định mức cụ thể như: Phát triển đàn lợn, đàn bò thịt và đàn bò sữa, cây lâm nghiệp, cây chè thì trong quá trình thực hiện lại nảy sinh một số bất cập do sự biến động của giá cả thị trường tác động đến vật tư, con giống, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trong khi mức hỗ trợ của Nhà nước thấp nên người dân không thiết tha tham gia cùng thực hiện. Công tác quản lý nguồn vốn hỗ trợ một số nơi chưa chặt chẽ, việc nghiệm thu sản phẩm làm căn cứ cấp phát vốn còn mang tính hình thức, mức hỗ trợ cho các hộ tham gia chương trình được đưa vào tuỳ tiện chưa đảm bảo đúng công tác quản lý tài chính, đầu tư.
Để phục vụ cho chương trình xây dựng nông thôn mới, hiện các ngành, địa phương đang triển khai xây dựng cơ chế chính sách phục vụ cho chương trình, với 11 nội dung cơ bản. Thực chất các chính sách này đã được triển khai thực hiện trên lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở tỉnh ta từ nhiều năm nay nên không có gì là mới mẻ đối với các ngành, địa phương và có thể coi đây chỉ là sự rà soát lại để tiếp tục triển khai thực hiện trong xây dựng nông thôn mới. Vì vậy vấn đề lúc này là phải rà soát, đánh giá thật khách quan những mặt đạt được cần tiếp tục phát huy và nhìn nhận rõ những tồn tại, hạn chế để có giải pháp khắc phục. Và điều quan trọng không phải là ngân sách hỗ trợ đầu tư nhiều hay ít mà chính sách phải phù hợp với thực tế, đúng với nguyện vọng, nhu cầu của người dân, bắt kịp nhịp độ sản xuất thì đồng vốn đầu tư mới thực sự mang lại hiệu quả cao.