Trong những năm qua, Quảng Ninh đang nỗ lực phấn đấu thực hiện mục tiêu từng bước rút ngắn khoảng cách giữa vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo với thành thị.
Tỉnh ta thực hiện mục tiêu này bằng việc nhân rộng các mô hình kinh tế; huy động mọi nguồn lực, tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các huyện nông thôn, miền núi có cơ hội vươn lên thoát nghèo thông qua các dự án, chương trình mục tiêu, các mô hình phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả cho thấy, diện mạo khu vực nông thôn, miền núi, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống có nhiều thay đổi và tiến bộ rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm từ 18,39% năm 1999 xuống còn 4,2% trong 6 tháng đầu năm 2010.
Mô hình trồng thanh long ruột đỏ đang cho hiệu quả kinh tế cao đối với một số hộ nông dân TX Uông Bí.
Ảnh: Hữu Việt
Nhiều mô hình kinh tế đang từng bước lan toả
Từ Hạ Long, vượt qua một chặng đường chừng 40km, chúng tôi đến Tân Dân, xã tiên phong trong xoá đói giảm nghèo của huyện Hoành Bồ. Với 95% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống của bà con chủ yếu dựa vào rừng thì nay nhờ có chính sách của Đảng, Nhà nước và sự quan tâm của chính quyền các cấp nhiều hộ gia đình trên địa bàn xã đã mạnh dạn đầu tư phát triển nghề nuôi nhím và mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Điển hình là gia đình ông Lý Tài Thông (63 tuổi), người dân tộc Dao, ở thôn Bằng Anh.
Năm 2003, được dự án FAO tài trợ 50% vốn, gia đình ông Thông đã tham gia đầu tư kinh phí mua 16 con nhím giống tại tỉnh Sơn La về nuôi sinh sản. Bằng kinh nghiệm vốn có và được sự hỗ trợ kỹ thuật chăn nuôi cũng như quy trình xây dựng chuồng trại của cán bộ dự án FAO, Phòng NN&PTNT huyện, nhím giống của gia đình ông đã phối giống thành công, sinh sản, sinh trưởng tốt. Năm 2007, gia đình ông đã có nhím giống bán ra thị trường và thu về gần 70 triệu đồng. Thành công đã tiếp thêm động lực để gia đình ông tiếp tục đầu tư, mở rộng chuồng trại nuôi nhím sinh sản. Năm 2008, gia đình ông thu được hơn 100 triệu đồng và năm 2009 thu được 170 triệu đồng từ việc bán nhím giống. Ông Thông tâm sự: “Hiện tại gia đình đang nuôi với tổng số 47 con nhím, trong đó có 16 con nhím cái thường xuyên sinh sản nhưng vẫn không đủ nhím giống để bán. Bởi vì ngoài các hộ dân trên địa bàn tỉnh còn có rất nhiều người ở các tỉnh khác cũng tìm đến để đặt mua nhím giống của gia đình. Trung bình một đôi nhím giống khoảng 30 triệu đồng”. Ông Thông cho biết thêm, trên địa bàn xã hiện có khoảng 10 hộ gia đình tham gia phát triển kinh tế gắn với mô hình nuôi nhím sinh sản và có hiệu quả tương tự.
Song song với mô hình phát triển nuôi nhím giống ở Tân Dân (Hoành Bồ) thì ở các xã Ðông Hải, Ðông Ngũ và Phong Dụ (Tiên Yên) cũng đang phát triển mạnh “thương hiệu” gà Tiên Yên. Xuất phát từ đặc trưng giống gà Tiên Yên là nuôi con khéo, sức đề kháng cao, mắn đẻ, chu kỳ sinh trưởng ngắn và giá trị kinh tế cao, huyện Tiên Yên đã tiến hành thực hiện dự án phát triển đàn gà nuôi tại hầu hết các hộ gia đình ở 3 xã Ðông Hải, Ðông Ngũ và Phong Dụ với mật độ khoảng 50 con/gia đình. Đồng chí Vũ Hùng Thắng, Phó Chủ tịch UBND huyện Tiên Yên cho biết: “Việc triển khai thực hiện dự án phát triển đàn gà Tiên Yên bước đầu đã có hiệu quả và cho thu nhập khoảng 50 triệu đồng/hộ/năm. Đến nay các hộ gia đình đã cơ bản đồng thuận với chủ trương của huyện về chuyển đổi vật nuôi, đầu tư nhân rộng giống gà Tiên Yên và phát triển đàn gà theo hướng sản xuất hàng hoá. Huyện đang xúc tiến làm thủ tục cấp chứng nhận chất lượng gà Tiên Yên”.
Ngoài các mô hình phát triển kinh tế như trên, còn có nhiều mô hình kinh tế khác cũng đang lan toả tới những bản làng, các khu vực nông thôn, miền núi trên địa bàn tỉnh như nuôi lợn rừng ở xã Lương Mông (Ba Chẽ); trồng măng Bát Độ ở xã Bắc Sơn (Móng Cái), nuôi tu hài ở Vân Đồn…
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình 135
Một trong những yếu tố được tỉnh xác định làm nền tảng, tạo đà cho kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn phát triển nhanh, bền vững đó là tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như hoàn thiện kế hoạch, mục tiêu đề ra của chương trình 135. Tính đến thời điểm này, các huyện, thị xã miền núi, biên giới, hải đảo trên địa bàn Quảng Ninh được quan tâm đầu tư hàng trăm tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách tỉnh và vốn chương trình mục tiêu 135. Vì vậy, hầu hết các xã đặc biệt khó khăn đã có đường được bê tông hoá hoặc thảm nhựa đến trung tâm các xã. Khoảng 90% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh trên 60%. Công tác kiên cố hoá trường học được đẩy mạnh thực hiện. Các trường trung học cơ sở ở các xã 135 cơ bản đã được đầu tư kiên cố; 94,3% số hộ dân được sử dụng điện. 142/186 Trạm y tế đạt chuẩn quốc gia trong năm 2009, về trước mục tiêu kế hoạch đề ra là 1 năm. Tiếp tục thực hiện chương trình 135, năm 2010, trên địa bàn tỉnh có 24 xã, 31 thôn, bản đặc biệt khó khăn được thụ hưởng nguồn vốn 45,408 tỷ đồng. 6 tháng đầu năm 2010, tỉnh đã đẩy mạnh triển khai thực hiện đồng bộ cả 4 hợp phần của chương trình, ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở. Đến nay, tỉnh triển khai thực hiện khoảng 15 tỷ đồng, chiếm 50% tổng vốn dự án xây dựng cơ sở hạ tầng của năm 2010. Trong đó, làm mới 18 công trình đường giao thông (như đoạn nối thôn Khe Ngà với Pò Mẩy của xã Hà Lâu, với vốn đầu tư 1 tỷ đồng; xây dựng tuyến đường bê tông vào trường THCS xã Phong Dụ, huyện Tiên Yên…); làm mới và duy tu bảo dưỡng 20 công trình thuỷ lợi; xây dựng trạm điện hạ thế và đường điện cho 6 công trình; xây dựng 2 nhà văn hoá và các công trình phụ trợ…
Với những nỗ lực cố gắng của chính quyền các cấp từ tỉnh đến các thôn bản, đời sống của nhân dân ở các vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo đã có nhiều chuyển biến tích cực. Số hộ nghèo đã giảm rõ rệt và thay vào đó là số hộ khá, giàu ngày càng nhiều. Ðây sẽ là động lực quan trọng để Quảng Ninh nỗ lực phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới mức 3,5% (theo tiêu chí mới) trong năm 2010 và các năm tiếp theo.