Sân chơi nào cho các ngân hàng ngoại?

Cho đến nay, bức tranh kinh doanh lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam đã được định hình tương đối rõ nét với bốn mảng màu chủ đạo.

Tuy nhiên, diện tích các mảng màu theo cách phân bổ trước đây xem ra đã đến lúc cần điều chỉnh để tạo được sự hài hòa. Bốn mảng màu đó đại diện cho bốn hệ thống ngân hàng, bao gồm ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Trong khoảng năm năm gần đây, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng ngân hàng tại Việt Nam tăng rất nhanh. Riêng tại các ngân hàng thương mại quốc doanh, tốc độ tăng trung bình đạt khoảng 24% năm. Hiện tại, bốn ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm gần 70% thị phần cho vay, còn khoảng một trăm ngân hàng và chi nhánh ngân hàng còn lại chỉ chiếm hơn 30%.

Trong hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần, ngoài Ngân hàng Á Châu và Sacombank đang có những nỗ lực bứt phá để khẳng định đẳng cấp và tính khác biệt (ACB chú trọng đầu tư vào công nghệ, sản phẩm dịch vụ điện tử, Sacombank phát triển mạnh trong lĩnh vực địa ốc), các ngân hàng tư nhân còn lại chưa thực sự có được những nét đặc trưng riêng biệt, ngoài ra còn có chung những hạn chế như chiến lược chưa rõ ràng, sản phẩm hạn chế, thiếu vốn và cả các vấn đề quản trị.

Các ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt để chiếm được phần to hơn trong miếng bánh còn lại, trong khi khách hàng thường vô cảm trước những nỗ lực đó của họ vì từ bỏ ngân hàng này sang giao dịch với ngân hàng khác thì lợi ích cũng chẳng mấy tăng thêm. Đối tượng sử dụng không ghi nhận nỗ lực của phía nhà cung cấp dịch vụ, thì đó là một tín hiệu chưa tốt.

Nếu như những quy định mới ban hành cho phép mở rộng hơn phạm vi và quy mô hoạt động các ngân hàng nước ngoài được đón nhận và ủng hộ thì vẫn còn những vấn đề cụ thể cần được giải quyết trước khi quy định mới thực sự phát huy tác dụng.

Trước đó vài tháng, ngân hàng nước ngoài vẫn còn đau đầu với vấn đề hạn chế mở rộng mạng lưới, hạn chế huy động tiền gửi VND của cá nhân và tổ chức Việt Nam không có giao dịch với các chi nhánh nước ngoài. Ở thời điểm đó, có cảm giác họ chẳng khác gì những vận động viên bơi lội chuyên nghiệp chỉ được phép bơi trong hồ bơi thiếu nhi. Nhưng khi họ được sang bơi ở hồ bơi dành cho người lớn, chắc hẳn một vài tay bơi cũ sẽ phải nhường đường bơi cho kẻ mới đến.

Sân chơi nào cho các ngân hàng ngoại? ảnh 1
Giao dịch tại Ngân hàng HSBC chi nhánh TP. Hồ Chí Minh

Từ 1-4, Chính phủ đã cho phép các ngân hàng con 100% vốn nước ngoài được phép thành lập và hoạt động kinh doanh tại Việt Nam như các ngân hàng nội địa mà không có bất kỳ một giới hạn nào; (để được phép, ngân hàng mẹ phải có tổng tài sản tối thiểu 10 tỉ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn; nếu muốn mở thêm chi nhánh, ngân hàng mẹ phải có tài sản trên 20 tỉ USD và vốn tối thiểu mỗi chi nhánh sẽ là 15 triệu USD).

Vì vậy, trong tương lai gần, chắc chắn một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài hiện nay như HSBC, ANZ, Standard Chartered, Chinfon... sẽ làm thủ tục chuyển đổi mô hình hoạt động. Trả lời cho câu hỏi đâu là sân chơi cho các ngân hàng nước ngoài, một quan chức ngân hàng đã nhận xét rằng nguy cơ mất thị phần của các ngân hàng trong nước là có thật, đặc biệt là các sản phẩm dịch vụ tài chính đòi hỏi công nghệ cao, cần nhiều thông tin và nhiều kinh nghiệm hoạt động như kinh doanh ngoại hối, dịch vụ thẻ hoặc thẩm định các dự án đầu tư có quy mô tài chính lớn, thẩm định giá…

Một điều hiển nhiên dễ thấy nữa là các doanh nghiệp đầu tư đến từ nước nào thường sử dụng dịch vụ của ngân hàng cũng đến từ quốc gia đó. Tốc độ tăng FDI có một sự tương đồng nhất định với tốc độ tăng trưởng tín dụng và nguồn vốn huy động của khu vực ngân hàng nước ngoài theo đó cũng sẽ tăng. Đây mới chính là miếng bánh to, an toàn, đảm bảo được độ tín nhiệm, tính ổn định và hiệu quả nhất.

Tuy nhiên, cũng còn một vài quan điểm cho rằng ngân hàng 100% vốn nước ngoài cũng không đáng ngại lắm vì họ chưa hiểu hết con người bản xứ, từ thói quen, văn hóa, đến nhân sinh quan của người bản xứ... Điều này hoàn toàn chính xác cho phân khúc thị trường vốn là thế mạnh của những ngân hàng như ngân hàng nông nghiệp và ngân hàng chính sách, nhưng công bằng mà nói thì cho hộ nông dân, tiểu thương buôn bán nhỏ vay vốn quả thật tiềm ẩn rủi ro nên không chỉ ngân hàng nước ngoài, mà các các ngân hàng thương mại nội địa cũng không mấy mặn mà.

Chiến lược thứ hai trong chiến lược đầu tư kép tại Việt Nam của các ngân hàng nước ngoài là mua cổ phần của các ngân hàng nội địa. Trong năm 2005, tổng số cổ phần mà ngân hàng nước ngoài mua của các ngân hàng trong nước như Techcombank, Sacombank, ACB và VPbank lên đến 5.496.454 cổ phần, tương đương 15,5 triệu USD.

Chắc chắn trong tương lai, số cổ phần này sẽ không dừng lại vì tỷ lệ sở hữu của các đối tác chiến lược nước ngoài trong ngân hàng nội địa được phép tăng lên đến 20%, tối đa là 30% và có khả năng còn được mở rộng nữa. Để gián tiếp tiếp cận thị trường cho vay lẻ thì đây có thể coi là cách thức kinh doanh khôn ngoan nhất của các ngân hàng nước ngoài trong điều kiện mạng lưới và nguồn nhân lực của họ còn hạn chế.

Theo thông lệ và đặc thù hoạt động, các ngân hàng nước ngoài cho vay không cần có tài sản thế chấp, miễn là khách hàng có phương án kinh doanh khả thi và thực hiện đúng quy định trong giao dịch. Họ hướng đến thu phí dịch vụ và bán chéo sản phẩm nhiều hơn. Lãi suất cho vay cạnh tranh của họ hơn hẳn, không thế chấp, giảm thiểu thủ tục hành chính...

Đó chính là “thiên đàng” nếu xét về mặt tâm lý của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang thiếu vốn. Trong khi đó, các ngân hàng nội địa với phương châm kinh doanh nắm đằng chuôi vẫn đang loay hoay với những thủ tục và cảm tính của mình mà quên rằng cái chuôi ấy cũng đang dần bị vuột mất.

Tóm lại, câu hỏi đâu là sân chơi của các ngân hàng nước ngoài có vẻ ngớ ngẩn hơn khi đặt câu hỏi ngược lại: “Đâu là sân chơi cho các ngân hàng nội địa khi đất nước hội nhập?”. Xin đừng để phải áp dụng cái tặc lưỡi của con cáo khi phải đứng nhìn chùm nho!n

Cùng chuyên mục