Theo dự báo của ngành Khí tượng và Thủy văn, mùa mưa bão năm nay, khả năng diễn biến thời tiết có nhiều bất thường, bão đến sớm, lượng mưa lớn, vì vậy công tác phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn cần phải được chủ động triển khai, đặc biệt là công tác phòng chống lũ quét, sạt lở đất đá đối với các địa phương trên địa bàn tỉnh.
Quảng Ninh là tỉnh miền núi, ven biển, 3/4 diện tích là đồi núi lại nhiều sông suối có chiều dài ngắn, dốc do đó lưu lượng nước về mùa lũ có thể lên tới hàng ngàn m3/giây, biên độ lũ lên tới 15m với cường độ mạnh, cho nên tình trạng sạt lở đất đá thường xuyên xảy ra có thể gây thiệt hại lớn về tính mạng, tài sản cho người dân. Nhằm giảm thiểu tình trạng lũ lụt và sạt lở đất đá, các địa phương và ngành chức năng cần tập trung rà soát, tôn tạo, xây mới các công trình nhằm làm giảm lưu lượng và cản trở sự truyền lũ như các công trình đập dâng, hồ chứa, kênh dẫn dòng phân lũ; khơi thông, mở rộng lòng dẫn nước tại các vị trí thắt, hẹp trên dòng chảy; xây dựng các công trình bảo vệ mái dốc chống sạt lở; sửa bề mặt mái dốc, hạ thấp mái dốc, làm thoải, tạo bậc ngang theo sườn mái dốc. Tạo sự thông thoáng cho mặt nước, nước ngầm bằng cách tạo các rãnh thoát nước cho khu vực mái dốc; bố trí các mũi khoan nghiêng thoát nước ra ngoài mái dốc; trồng cỏ hoặc xử lý bê tông bề mặt mái dốc; sử dụng các công trình chống đỡ như tường chắn bê tông, tường rọ đá. Căn cứ quy hoạch lũ quét và sạt lở đất đá để xác định hành lang an toàn làm cơ sở cho việc quy hoạch, bố trí, sắp xếp lại dân cư, kiên quyết di dời các hộ dân trong vùng có nguy cơ cao về sạt lở đất, lũ quét đến nơi an toàn; tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động xây dựng cơ bản; không cho xây dựng tại các vùng có nguy cơ sạt lở cao mà không có các biện pháp xử lý đảm bảo an toàn. Tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguyên nhân, tác hại của sạt lở đất đá, lũ quét, cách phòng chống để nhân dân tự giác tham gia. Tuy nhiên, hiện nay công tác di dời các hộ dân trong vùng có nguy cơ cao về sạt lở đất đá lũ quét đến nơi an toàn là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu, song việc thực hiện còn gặp không ít khó khăn. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tình hình thực hiện công tác di dời dân ra khỏi vùng thiên tai, đến cuối năm 2009, toàn tỉnh đã có 64 hộ xây dựng xong nhà ở, đạt 26,3% kế hoạch (trong đó có 46 hộ đã chuyển đến nơi ở mới); 78 hộ đang triển khai xây dựng; 48 hộ đã có đất làm nhà nhưng chưa triển khai thi công; 53 hộ chưa tìm được đất làm nhà. Như vậy, tiến độ di dân đến nơi an toàn vẫn còn chậm so với chỉ đạo của tỉnh. Một số huyện chưa thật sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo thực hiện, việc triển khai các bước chuẩn bị còn chậm, chưa chủ động trong công tác quy hoạch và xây dựng các khu bố trí tái định cư. Nhiều địa phương đã bố trí khu tái định cư nhưng vì lý do xa nơi sản xuất, cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh còn nhiều khó khăn nên nhiều hộ dân chưa đồng ý di chuyển. Một số hộ dân nằm trong vùng nguy hiểm, mặc dù đã được chính quyền địa phương, các ban, ngành, đoàn thể tuyên truyền vận động, thuyết phục nhưng vẫn có tư tưởng chủ quan, không chịu di chuyển đến nơi an toàn với lý do nhà ở hiện tại thuộc loại kiên cố có thể chống chịu được với thiên tai, hoặc lý do mức hỗ trợ hiện nay là quá thấp không đủ để làm nhà mới với quy mô như cũ hoặc chưa “được tuổi” làm nhà, nên địa phương phải điều chỉnh hồ sơ di dân, ảnh hưởng đến tiến độ di dân. Nhìn chung, khó khăn đối với các địa phương trong công tác di dân hiện nay vẫn là kinh phí để giải phóng mặt bằng, quy hoạch khu bố trí tái định cư, xây dựng cơ sở hạ tầng tại vùng dân đến định cư. Mùa mưa bão đã đến, nhằm giảm thiểu thiệt hại tài sản cũng như tính mạng của nhân dân đến mức thấp nhất khi thiên tai xảy ra, các địa phương cần tích cực triển khai thực hiện công tác di dời dân ra khỏi vùng có nguy cơ cao về sạt lở đất đá. Đối với những hộ dân đang triển khai làm nhà cần khẩn trương hoàn thiện, những hộ dân đã có đất nhưng chưa triển khai xây dựng nhà và những hộ dân chưa tìm được đất để làm nhà, trong thời gian chờ triển khai thực hiện, địa phương phải xây dựng phương án cụ thể để sơ tán các hộ này đến các điểm an toàn như trường học kiên cố, trụ sở UBND xã... khi mưa bão đến. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để người dân tự giác chấp hành, trường hợp cố tình không chịu di dời tiến hành cưỡng chế ngay để đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân; chỉ đạo các huyện tiếp tục rà soát các đối tượng trong vùng có nguy cơ sạt lở, lũ quét trên địa bàn để nhanh chóng thực hiện di dời trước mùa mưa bão. Hiện trên địa bàn tỉnh có 101 điểm có nguy cơ xảy ra sạt lở đất đá, trong đó nguy cơ cao là 34 điểm, nguy cơ rất cao là 16 điểm, tập trung chủ yếu ở các huyện Bình Liêu, Hoành Bồ, Ba Chẽ, Cẩm Phả, Tiên Yên và TP Hạ Long. Nhiều khu vực như trên địa bàn các xã: Đồng Văn, Hoành Mô, Đồng Tâm, Lục Hồn, Tình Húc (Bình Liêu), thôn Đốc Phẹ, xã Phong Dụ, khu phố Long Thành, thị trấn Tiên Yên (Tiên Yên), xã Quảng Lâm (Đầm Hà) có nguy cơ sạt lở cao với hệ số từ 7,8 đến 8,0. Nhiều khu dân cư của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả còn nằm trong những khu vực rất dễ xảy ra sạt lở đất đá tại những chân núi, bờ kè và ngập úng khi có mưa lớn. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 218 khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét nghẽn dòng và lũ quét hỗn hợp, tập trung chủ yếu tại các địa phương: Hoành Bồ (50 điểm), Tiên Yên (29 điểm), Ba Chẽ (46 điểm), Bình Liêu (21 điểm), Cẩm Phả (17 điểm); có 109 điểm có nguy cơ xảy ra lũ quét sườn, trong đó, mức độ trung bình 42 điểm, mức độ cao là 31 điểm và mức độ rất cao là 14 điểm.
Công trình xây kè chắn tại chân dốc nhà thờ (phường Bạch Đằng, TP Hạ Long) đã bị đình chỉ thi công do không đảm bảo an toàn.
Các công trình đang thi công tại khu vực cuối đường 25-4 (TP Hạ Long) đang có nguy cơ sạt lở nếu không có biện pháp thi công hợp lý.