Trước đây, các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn được tập trung quản lý bởi các Bộ, ngành địa phương theo cơ chế chủ quản.
Phần lớn các hoạt động của doanh nghiệp đều do cơ quan chủ quản quyết định chi phối thông qua mệnh lệnh hành chính, tính chủ động trong doanh nghiệp hạn chế, hiệu quả kinh doanh đạt thấp. Thực hiện chủ trương thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đến nay Quảng Ninh đã hoàn thành xong việc chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty TNHH một thành viên hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
Có thể thấy từ khi cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp được đổi mới đã góp phần quan trọng thực hiện cải các hành chính trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp, từng bước xóa bỏ chế độ chủ quản và nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh trước pháp luật của doanh nghiệp. Xây dựng cơ chế gắn trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của người quản lý doanh nghiệp với kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Thực hiện cơ chế nhà nước đầu tư vốn cho doanh nghiệp thông qua công ty đầu tư tài chính nhà nước. Đổi mới tổ chức và quy chế thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước gắn tới việc thu hẹp và tiến tới không còn chức năng đại diện chủ sở hữu của các Bộ, địa phương đối với doanh nghiệp nhà nước. Thay đổi cơ bản cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp theo hướng xóa bỏ bao cấp từ ngân sách nhà nước, để doanh nghiệp tự chủ về huy động vốn, bảo toàn vốn, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo cơ chế thị trường. Ngân sách tỉnh chỉ bổ sung cho doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ công ích, thực hiện chính sách phát triển kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa. Việc thay đổi căn bản cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước theo hướng xóa bỏ bao cấp cho khu vực này từ ngân sách nhà nước cùng với việc phân định chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước với chức năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước đã làm cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh được nâng lên rõ rệt xét trên các mặt: lãi tuyệt đối, nộp ngân sách nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư chiều sâu, đa dạng hóa ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường, người sản xuất với người tiêu dùng. Tuy rằng so với các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nhà nước phát triển còn chậm, các chỉ tiêu: hiệu suất sử dụng vốn, tỷ lệ nộp ngân sách nhà nước trên vốn… còn thấp nhưng so với thời kỳ trước đổi mới, sắp xếp, doanh nghiệp nhà nước tỉnh Quảng Ninh đã có bước chuyển biến rõ rệt.
Qua thực tế công tác quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp nhà nước tỉnh Quảng Ninh cho thấy phải phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của nhà nước với tư cách là chủ sở hữu với trách nhiệm và quyền hạn của doanh nghiệp nhà nước với tư cách là người trực tiếp sử dụng vốn, tài sản nhà nước có nhiệm vụ phải quản lý, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước không nên can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng các mệnh lệnh hành chính vì sẽ làm giảm vai trò chủ động của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đôi khi làm mất cơ hội, giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Nhà nước chỉ quản lý doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu, định mức tài chính, thông qua các công cụ: báo cáo tài chính, công ty kiểm toán... Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành doanh nghiệp phải có năng lực, được đào tạo bài bản, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ quản lý, năng động trong điều hành doanh nghiệp thích ứng với cơ chế thị trường. Những cán bộ không đáp ứng được yêu cầu quản lý trong điều kiện mới thì phải tổ chức đào tạo, đào tạo lại hoặc chuyển vị trí công tác khác, nếu không bố trí được thì cho nghỉ chế độ. Cần xác định đúng đối tượng quản lý của hoạt động quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước đó là chỉ quản lý phần vốn đầu tư của nhà nước, còn các phần vốn khác mà doanh nghiệp tự huy động để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì để doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Có như vậy, quyền quản lý vốn nhà nước không vi phạm đến quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp. Cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước. Duy trì chế độ báo cáo theo định kỳ của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu vốn nhà nước để nắm bắt kịp thời tình hình sử dụng vốn nhà nước của doanh nghiệp. Phát huy vai trò của người đại diện quản lý phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước về trách nhiệm, năng lực trình độ chuyên môn, lựa chọn những cán bộ có trình độ nghiệp vụ quản lý tài chính doanh nghiệp, nắm am hiểu chế độ, chính sách của nhà nước về quản lý tài chính, năng động trong cơ chế thị trường, vừa thực hiện công tác quản lý phần vốn nhà nước vừa tham mưu, hướng dẫn cho doanh nghiệp thực hiện đúng chế độ, chính sách, pháp luật của nhà nước, giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua các đề án tái cơ cấu, tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược phù hợp cho doanh nghiệp. Đồng thời, phát hiện kịp thời những hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật của doanh nghiệp để báo cáo chủ sở hữu vốn nhà nước xem xét, xử lý kịp thời, không để kéo dài, gây mất tài sản, vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.