Với khoảng trên 156.000 cơ sở công nghiệp, trong đó có 200 cở sản xuất lớn trực tiếp xả nước thải vào lưu vực sông Nhuệ - Đáy đã khiến hai con sông này đi vào tình trạng "chết" dần từng ngày. Bên cạnh đó, cùng với lượng nước thải công nghiệp, làng nghề chưa qua xử lý của cả 6 tỉnh, trung bình mỗi ngày 2 con sông này phải tiếp nhận khoảng 800.000m3 nước thải.
Kết quả quan trắc cho thấy, nước sông bị ô nhiễm chủ yếu bởi các chất hữu cơ, dinh dưỡng, chất rắn lơ lửng, mùi hôi, độ màu và vi khuẩn, đặc biệt vào mùa khô. Ô nhiễm nước sông lưu vực này có chiều hướng ngày càng tăng. Nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm trầm trọng tại cả ba lưu vực sông này là nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước thải làng nghề, nước thải y tế, hoạt động khai thác khoáng sản, hoạt động nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, v.v...
Hà Nội: Gây ô nhiễm nghiêm trọng cho sông Nhuệ - Đáy
Hiện tại, với tổng lượng nước thải công nghiệp khoảng 100.000m3/ngày đêm, Hà Nội đang đứng đầu danh sách 6 tỉnh về lượng nước thải đổ ra sông Nhuệ - Đáy. Mặt nước ở các sông của nội thành Hà Nội bị ô nhiễm nghiêm trọng, các đoạn sông Nhuệ nhận nước từ sông Tô Lịch cũng có dấu hiệu bị ô nhiễm. Các giá trị COD, BOD5 (ô nhiễm hữu cơ) vượt quá tiêu chuẩn từ 3- 5 lần. Nước sông màu đen, có váng, cặn lắng và có mùi tanh.
Chất lượng nước của 2 sông Nhuệ - Đáy đã được cảnh báo ở mức độ ô nhiễm trung bình đến ô nhiễm nặng, nặng nhất là từ Cống Thần, Đồng Quan chảy về phía Hà Nội, Hà Đông.
Còn theo dự báo của Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam, tải lượng ô nhiễm vào lưu vực sông Nhuệ từ đập Thanh Liệt sẽ tăng lên gần 16% trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2010.
Sông Nhuệ là con sông mẹ, tiếp nhận 500.000m3 nước thải mỗi ngày từ bốn con sông thoát nước của Hà Nội: Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét (qua đập Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội). Kết quả giám định của Viện Quy hoạch thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, tại cầu Tó, nơi nhận nước thải lớn nhất tại sông Tô Lịch, hàm lượng các chất hóa học đều vượt giới hạn B (giới hạn độc hại của tiêu chuẩn 5942 - tiêu chuẩn dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm của một nguồn nước mặt) nhiều lần. Lượng NO2 có lúc đạt 0,508 mg/lít (vượt giới hạn B 10 lần); lượng NH4+ là 2,005 mg/l (gấp đôi giới hạn B); lượng Coliform, loại vi khuẩn có trong phân từ 110.000 - đến 330.000 mpn/100 ml (vượt quá giới hạn B 33 lần).
Ở sông Đáy, mức độ ô nhiễm mang tính cục bộ, trong đó nặng nề nhất là đoạn cầu Hồng Phú (Phủ Lý, Hà Nam - hợp lưu của sông Nhuệ, Đáy và sông Châu Giang). Tại đây, nước sông bị ô nhiễm hữu cơ cao. Các thông số như BOD5, COD, các hợp chất Nitơ và Coliform đều không đạt TCCP. Tình trạng này diễn ra tương tự tại đoạn hợp lưu của sông Hoàng Long đổ vào sông Đáy (cầu Gián Khẩu - Gia Viễn - Ninh Bình) và xu hướng ô nhiễm ngày một gia tăng với lượng nước thải được dự báo tăng 1,2 lần ở Hà Nội và 1,9 lần ở Hà Tây trong vòng 3 năm nữa.
Trong bản báo cáo môi trường quốc gia 2006 chỉ rõ, từ nay đến 2010, nếu chúng ta không có những biện pháp hợp lý bảo vệ môi trường như xử lý nước thải trước khi đổ vào sông, chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy sẽ tiếp tục xấu đi, nồng độ BOD tăng khoảng 1,2 -1,5 lần, tổng nito tăng từ 1,2 - 1,85 lần, tổng photpho tăng đến hơn hai lần, tổng coliform tăng từ 1,3 - 2 lần.
Ông Trần Văn Giai, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định diễn giải, từ năm 1937, sau khi xây dựng xong đập Đáy, nước sông Hồng không thường xuyên chảy vào sông Đáy. Dẫn đến, 71 km của sông Nhuệ - Đáy (phần đầu nguồn sông từ km 0 đến Ba Thá) coi như là đoạn sông chết.
Theo ông Giai, hiện sông Đáy đã bị xâm nhập mặn ở vùng hạ lưu, phần thượng lưu và trung lưu bị ô nhiễm do nguồn nước thải ở vùng dân cư tập trung, khu công nghiệp của các tỉnh Hà Nam, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nội.
Ông Lê Văn Tân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam lại bức xúc vì Nhà máy nước Hà Nam phải đóng cửa mấy lần/năm vì nước sông Đáy quá ô nhiễm, không thể xử lý được. Trong khi đó, nước sông Nhuệ thì đen ngòm, bốc mùi tanh mà... vẫn phải dùng cho sản xuất.
Chung tay ’’cứu’’ sông Nhuệ - Đáy
Hà Nội đề xuất thành lập Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy với sự tham gia của các địa phương, bộ ngành, các nhà khoa học... nhằm hoạch định và trình Chính phủ các nhiệm vụ, kế hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy một cách cụ thể, rõ ràng.
Trong năm 2007, Đề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ - sông Đáy đề ra mục tiêu xử lý tất cả các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng; khắc phục, cải tạo một số đoạn sông bị ô nhiễm nặng; khắc phục tình trạng thiếu nước sinh hoạt, nước phục vụ nông nghiệp trong mùa khô...
Các địa phương cũng thống nhất quan điểm, việc bảo vệ môi trường nước trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy là việc khó cần phải làm lâu dài và có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ từ các cơ quan và các địa phương liên quan.
Theo đó, nếu không có sự chung tay và thực hiện ngay các biện pháp bảo vệ môi trường để ’’cứu’’ sông Nhuệ - Đáy thì việc ’’khai tử’’ dòng sông này là điều không tránh khỏi!
Các sông chính thuộc Nhuệ - Đáy gồm Nhuệ, Thanh Hà, Tích, Hoàng Long, Châu Giang, Đào, Ninh Cơ. Sông Tô Lịch là nhánh chính của sông Nhuệ nhận nứoc từ sông Lừ, Kim Ngưu, Sét. Các tỉnh có liên quan tới lưu vực sông này gồm Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Hòa Bình, Ninh Bình, và Nam Định.
Sông Nhuệ - Đáy có diện tích tự nhiên là7.665 km2 (chiếm khoảng hơn 2% diện tích cả nước). Tổng lượng nước hàng năm của lưu vực sông này khoảng 28,8 tỷ m3.