Hiện nay, vốn tín dụng ngân hàng đang được tập trung đầu tư vào các ngành kinh tế trọng điểm của địa phương như: Sản xuất kinh doanh than, điện, nước, công nghiệp chế biến, vật liệu xây dựng, thương mại, du lịch...
Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước tỉnh, vốn đầu tư cho các ngành công nghiệp và xây dựng hiện đang chiếm khoảng 50,8% tổng dư nợ; cho vay các ngành thương mại, dịch vụ chiếm 44,6% tổng dư nợ. Qua đánh giá của các ngành cho thấy, việc phân bổ này rất phù hợp với nhu cầu phát triển ngành tại địa phương, qua đó, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tạo điều kiện hỗ trợ các thành phần kinh tế mở rộng, nâng cao chất lượng và phát triển dịch vụ, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống. Về cơ cấu đầu tư theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế tiếp tục có sự dịch chuyển phù hợp hơn, góp phần hỗ trợ và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo đúng định hướng. So với các năm trước, hiện nay dư nợ cho vay khu vực kinh tế nhà nước đã tăng 50% và chiếm tỷ trọng 42,8% tổng dư nợ; dư nợ cho vay các khu vực ngoài quốc doanh tăng 22% và chiếm tỷ trọng 28,4%; dư nợ cho vay kinh tế tập thể tăng 62,5% và chiếm tỷ trọng 0,18% ; dư nợ cho vay kinh tế cá thể tăng 75,5% và chiếm tỷ trọng 28,5%.
Nhân viên Ngân hàng NN & PTNT Quảng Ninh làm thủ tục tín dụng cho khách hàng.
Ảnh: Ngọc Anh
Bên cạnh đó, thực hiện các chính sách hỗ trợ lãi suất theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các ngân hàng trên địa bàn đang tiếp tục triển khai cơ chế hỗ trợ lãi suất theo đúng các quy định và hướng dẫn của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước; đồng thời kiểm tra, theo dõi và thu hồi các khoản cho vay hỗ trợ đã giải ngân cho khách hàng. Đến hết tháng 12-2010, tổng dư nợ cho vay được hỗ trợ lãi suất chiếm khoảng 8,7% tổng dư nợ toàn địa bàn, trong đó: Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất trung, dài hạn đạt 3.795 tỷ đồng, chiếm 14,8% dư nợ cho vay trung, dài hạn bằng VND; đối với khoản vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và VLXD nhà ở khu vực nông thôn với dư nợ là 3,4 tỷ đồng. Riêng dư nợ đối với khoản vay của người nghèo và đối tượng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh Quảng Ninh đạt 322 tỷ đồng.
Đối với tín dụng chính sách, Ngân hàng chính sách xã hội đã mở rộng với 11 chương trình ưu đãi được chỉ định, góp phần thực hiện chương trình giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội của tỉnh. Dư nợ cho vay tín dụng chính sách đến hết năm 2010 đã tăng 20,3% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó: Dư nợ cho vay ưu đãi hộ nghèo đạt 533 tỷ đồng, chiếm 40,1%; cho vay giải quyết việc làm đạt 71 tỷ đồng, chiếm 5%; cho vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đạt 211 tỷ đồng, chiếm 15,8%; cho vay vùng khó khăn 241 tỷ đồng, chiếm 18,1%; cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đạt 215 tỷ đồng, chiếm 16,1%... Ngoài ra, đối với việc thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ, các Ngân hàng đã quán triệt, triển khai cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ, nhằm khơi thông nguồn vốn phục vụ nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân và từng bước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước tỉnh, chất lượng tín dụng của các ngân hàng đã được duy trì, nợ xấu đảm bảo ở dưới mức cho phép. Các ngân hàng tiếp tục kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, nâng cao chất lượng công tác thẩm định và tăng cường kiểm tra, giám sát trước, trong và sau khi cho vay, ngăn ngừa nợ quá hạn phát sinh, chủ động và có biện pháp cơ cấu lại nợ nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp, khách hàng vay vốn gặp khó khăn trong sản xuất - kinh doanh.
Để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, khối ngân hàng đã tập trung xây dựng và đang triển khai các biện pháp sử dụng vốn tín dụng sao cho có hiệu quả nhất. Trong đó, tập trung vào một số giải pháp chính như: Mở rộng tín dụng và các hoạt động kinh doanh trên cơ sở khả năng huy động vốn, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng; tập trung vốn cho vay chi phí sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, nông nghiệp và nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa; kiểm soát chặt chẽ cho vay bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán, cho vay tiêu dùng; thực hiện cho vay trên cơ sở lãi suất thoả thuận, tiếp tục thực hiện có hiệu quả cơ chế cho vay hỗ trợ lãi suất đối với các khoản tín dụng dài hạn…