Sự khởi đầu mang nhiều hy vọng

Quảng Ninh là vùng đất giàu tiềm năng văn hoá văn nghệ dân gian (VNDG). Cái vốn ấy được tích luỹ nhiều trong các nghệ nhân trực tiếp hoạt động ở các loại hình VNDG, bởi vậy họ được xem như nguồn tư liệu sống vậy. Nhưng đáng tiếc là đến tận bây giờ, Quảng Ninh mới làm hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian cho 5 nghệ nhân đầu tiên của tỉnh...

Dẫu vậy thì sự khởi đầu này cũng là nguồn cổ vũ, động viên cho mỗi nghệ nhân, đồng thời mở ra hy vọng cho các nghệ nhân khác đã có sự cống hiến trong lĩnh vực VNDG những năm qua ở Quảng Ninh.

Sự khởi đầu mang nhiều hy vọng ảnh 1
Bà Trương Thị Ba đang truyền dạy nghề thêu trang phục truyền thống cho chị em phụ nữ Bằng Cả.

Góp phần quan trọng làm cho ca trù Đầm Hà hồi sinh không thể quên vai trò của bà Đặng Thị Tự. Có duyên với các làn điệu nhà tơ, ngay từ năm 14 tuổi, bà được thím ruột và một số người thân truyền dạy cho các điệu hát múa. 17 tuổi, bà đã trở thành một ca nương mặn mà và trong suốt 20 năm liền, bà cùng các thành viên đội hát đi biểu diễn thường xuyên tại hội đình của xã, huyện và trong các lễ hội ở một số huyện miền Đông của tỉnh như Tiên Yên, Trà Cổ (Móng Cái), Hà Cối (nay là Quảng Hà, Hải Hà), thậm chí sang cả làng của người Việt ở Trung Quốc biểu diễn. Suốt hơn 40 năm sau  đó đình Đầm Hà bị tàn phá, không còn hội đình làng, các nghệ nhân như bà không còn cơ hội để biểu diễn nữa. Nỗi nhớ nghề vẫn cháy không nguôi trong lòng, đến năm 2000, bà đã đứng ra lập nhóm hát (có 3 người) đi hát tại từ đường các dòng họ. Chuẩn bị cho việc phục dựng lễ hội đình Đầm Hà, các nhà sưu tầm nghiên cứu văn hoá đã tìm đến những nghệ nhân như bà. Bằng trí nhớ tuyệt vời, bà đã cung cấp các bài hát, cách hát múa nhà tơ, bao gồm 9 giọng điệu hát cửa đình với gần 800 câu hát, hơn 40 bài xướng đào mừng Thần - Hoàng trong các lễ hội. Bà còn truyền dạy cho gần 30 người (gồm đa phần là các cháu học sinh và một số là trung tuổi) hát nhà tơ, múa các điệu múa bông, múa dâng hương, múa tế, múa đội đèn thành thục. Hiện bà vẫn tiếp tục cung cấp các bài bản, kỹ thuật hát, múa cho các cán bộ sưu tầm văn hoá, tham gia quay phim, chụp ảnh để truyền lại cho thế hệ sau vốn văn hoá quý giá này.

Cũng như bà Tự, bà Trương Thị Ba ở xã Bằng Cả, Hoành Bồ cũng rất say mê với những nét văn hoá truyền thống của dân tộc mình. Như mọi cô gái người Dao khác, ngay từ nhỏ bà Ba đã được mẹ truyền lại những phong tục tập quán và các nghề truyền thống của dân tộc Dao Thanh Y như thêu may trang phục dân tộc, hát đối, hát giao duyên, hát trong đám cấp sắc, đám chay. Sáng ý, chăm chỉ lại sẵn lòng yêu thích nên năm 15 tuổi, bà đã biết tự thêu may các loại trang phục truyền thống và thành thục trong các điệu hát truyền thống của người Dao quê mình. Qua nhiều năm, bà đã truyền dạy cho nhiều lớp con cháu của xã nhà và một số xã bạn việc thêu may các trang phục truyền thống như quần áo mặc trong lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ hội cấp sắc, đám chay vào các dịp hội làng Bằng Cả hàng năm và các ngày lễ khác, cũng như tập cho lớp trẻ hát các điệu hát đối, hát giao duyên, hát trong các ngày lễ, ngày hội v.v... Hiện nay, dẫu đã cao tuổi nhưng bà vẫn tìm tòi để sáng tạo ra những điểm mới nhằm phát huy vốn văn hoá truyền thống của dân tộc.

Có thuận lợi là làm công tác văn hoá thông tin nhiều năm, ông Ngô Đức Nguyên ở Bình Liêu đã sưu tầm được 6 bài hát then cổ và dịch ra tiếng Kinh; sưu tầm và giới thiệu được hai làn điệu hát then của người Tày Bình Liêu bằng cách ghi nhớ và giới thiệu truyền khẩu, đã được phát trong các hội diễn nghệ thuật của huyện, tỉnh và lưu hành rộng rãi ở các vùng có đồng bào dân tộc Tày của Bình Liêu sinh sống khắp đất nước; thậm chí sang cả Trung Quốc. Dựa vào hai làn điệu then này, ông đã sáng tác được 59 bài hát then mới với nội dung hiện đại, trong đó có 8 bài bằng cả lời Tày và lời Kinh, 4 vở kịch ngắn hát bằng lời then, đã được dàn dựng và lưu diễn khắp các xã của Bình Liêu. Ông cũng phối hợp sưu tầm được 8 khúc ca Soóng cọ của người Sán Chỉ ở Bình Liêu, dịch ra lời Kinh nay vẫn được phổ biến trong các ngày hội nơi đây. Cũng dựa vào 2 làn điệu hát then, ông đã mở 3 lớp dạy hát then và đàn tính cho lớp trẻ; đồng thời đây cũng là chất liệu quý được các nhạc sĩ chuyên nghiệp sử dụng chỉnh biên thành các ca khúc mới.

CLB hát đúm huyện Yên Hưng có 2 nghệ nhân được vinh dự đề nghị lên Hội VNDG Việt Nam xét tặng danh hiệu nghệ nhân dân gian đợt này. Đó là ông Ngô Đăng Nhuận và bà Phạm Thị Thành. Ông Nhuận tham gia phong trào hát đúm từ năm 18 tuổi. Một thời gian dài do kháng chiến, phong trào hát đúm ở địa phương dần bị mai một. Để bảo tồn loại hình văn hoá truyền thống phi vật thể của vùng đất Yên Hưng, đồng thời cũng là người rất say mê với lối hát này, ông đã dành nhiều thời gian sưu tầm những câu hát cổ còn lưu truyền trong dân gian về biên soạn bài bản rồi tổ chức thành nhóm hát gồm các nghệ nhân cao tuổi, ngày đêm tập luyện phục vụ các lễ hội như đình Cốc, hội Tiên Công, lễ hội Bạch Đằng. Là một trong những thành viên sáng lập ra CLB hát đúm Yên Hưng (năm 2003), ông đã dành nhiều thời gian hướng dẫn lề lối hát cho các hội viên khác. Còn bà Phạm Thị Thành, một hội viên tích cực của CLB hát đúm Yên Hưng thì có công trong sưu tầm các bài hát cổ, thường xuyên cùng với các hội viên trong CLB luyện tập và hát trong các dịp lễ hội để gìn giữ và bảo tồn loại hình văn hoá này. Ông Nhuận và bà Thành còn tích cực truyền dạy các làn điệu hát đúm cho lớp trẻ để có lớp nghệ nhân kế cận. Đồng thời để lưu giữ bằng văn bản cho thế hệ mai sau, hai nghệ nhân này đã đóng góp được nhiều bài hát cổ vào các tập sách Hát đúm Hà Nam - Yên Hưng, Hát đúm vùng biển Quảng Ninh.

Điều dễ nhận ra là cả 5 nghệ nhân được đề nghị phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian đợt này tuổi đều đã cao (trên 70 tuổi) có người sức khoẻ rất yếu. Với sự say mê, tâm huyết và những cống hiến bền bỉ của mình, trong lòng nhân dân địa phương, họ đã là những nghệ nhân dân gian đích thực. Nhưng dẫu vậy thì với tuổi tác các nghệ nhân đang ngày càng cao, nếu không khai thác vốn văn hoá trong các nghệ nhân già thì sẽ có ngày chúng ta phải hối tiếc vì để mất những tài sản văn hoá sống quý giá này...